Hình ảnh hoạt động
HẢI VÂN - ĐIỂM DU LỊCH CẦN ĐƯỢC KHAI THÁC
Cập nhật ngày: 26/01/2015 08:59:19
Địa danh Hải Vân đã trở nên thân quen và phổ biến từ trong sử sách cho đến ngoài dân gian. Trên đỉnh núi có đặt đồn ải, có đường thông thương hai xứ Thuận Quảng cho nên thường gọi là đèo Hải Vân. Có núi Hải Vân, Đèo Hải Vân, tuần Hải Vân và cửa ải Hải Vân. Dấu tích viết bằng chữ Hán để lại phía trên pháo đài ở đỉnh đèo còn tờ mờ, nét còn, nét mất; mặt trước in hình 3 chữ : HẢI VÂN QUAN, mặt sau: THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT HÙNG QUAN. Chính sử gọi địa danh này là Hải Sơn, đủ gợi lên trong trí tưởng tượng của khách bộ hành, người đi biên một cảnh quan thoáng rộng đến tận chân trời, có núi đồi hùng vĩ tiếp giáp với biển cả bát ngàn. Có nhiều đoạn đá như được trồng ngược, dựng thành bờ vách cheo leo, hiểm trở, trông nhìn đến ngợp cả hồn vía. Sóng vỗ ngày đêm, nước quyện ôm lấy chân bờ như muốn thôi thúc người đời nay phải đổ nhiều công sức, trí tuệ, tiền của đầu tư kinh doanh cho cuộc đất vuông tròn nhanh chóng vươn lên, khỏi phụ với lòng mong ước, trăn trối của Đoan quốc công Nguyễn Hoàng trước khi mất.

Đèo Hải Vân

Miêu tả về cảnh trí núi đèo Hải Vân, tác giả sách Ô Châu Cận Lục (tr. 67) gọi là cái đầu nảo của non sông và nhà bác học Lê Quí Đôn đã ghi lại hai đoạn ngắn ở sách Phủ Biên Tạp Lục, được dịch như sau, trang 95 và 98:

              - Núi Hải Vân ở Hải Vân quan huyện Tư Vang, dưới xuống sát bờ biển, trên chọc tầng mây, là giới hạn của hai xứ Thuận Hoá – Quảng Nam, có cửa ải, đặt binh canh giữ. Từ đấy theo đường núi đi hơn một ngày đường là địa phận Quảng Nam.

              - Hải Vân quan ở huyện Tư Vang, trên lên tận trời xanh; dưới xuống tận biển cả, là đất cổ họng của Thuận Quảng, có đồn canh và tuần ty, trên từ Yên Nguyên, dưới đến Ô Rô đều khám xét.

             Đoan quốc công Nguyễn Hoàng đã tiếp nối chí hướng lớn lao của các vua nhà Trần, năm Hoằng Định thứ 3, 1602 nhân đi chơi Hải Vân thấy non nước hiểm trở đã phán rằng: “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”.

              Vào thời điểm lịch sử ấy, cách đây gần 400 năm, chúa Nguyễn Hoàng đã quyết tâm vượt qua độ cao gần 500 mét của đỉnh Hải Vân để xem xét hình thế, địa thế, núi rừng, sản vật thì thật là giàu chí mạo hiểm, khí phách hiên ngang, quá ư tang bồng hơn cả thiên hạ. Chúa đã sai lập dinh ở xã Cần Húc (nay thuộc huyện Duy Xuyên), xây kho tàng để chứa lương thực cùng sản vật, rồi giao cho công tử thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên trấn giữ mới thật an lòng. Và dinh mới này, tục gọi là dinh Chiêm.

              Thì ra, từ việc đi du lịch, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng đã nảy sinh một tầm nhìn mang tính cách chiến lược và đã nuôi dưỡng quyết tâm ấy cho đến trước khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày Mậu Ngọ, tháng 5 năm Quý Sửu, 1613. Lời dặn trước khi chúa mất, có đoạn nói hết sức tâm huyết:

             “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Hoàng Sơn, sông Linh Giang (sông Gianh) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân, núi Thạch Bi vững bền; núi sinh vàng, sắt; biển có cá, muối, thật là đất dụng võ của những kẻ anh hùng”.

              Tiếp nối chí hướng của các vua chúa tiên triều, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), chúa đã tuần du qua núi Hải Vân và ngự đề để lại bài thơ:

Việt Nam hiểm ải thử sơn điên

Hình thể hồn như Thục đạo thiên

Đãn kiến vân hoành tam tuấn lãnh

Bất tri nhân tại kỷ trùng thiên.

Dịch là:

Núi này ải hiếm đất Việt Nam

Hình thể hệt như đường vào Thục

Chỉ thấy mây giăng ba đèo dốc

Biết đâu người ở mấy từng mây.

              Thời Việt Nam bắt đầu có danh xưng Đại Nam, năm Minh Mạng thứ 20, vua cho lập đền thờ thần núi Hải Vân ở ấp An Cư thuộc huyện Phú Lộc (xưa kia là phần đất của huyện Tư Vang). Hằng năm vào tháng hai âm lịch có tổ chức lễ tế thần núi long trọng. Quan Kinh doãn Thừa Thiên Huế đứng chủ lễ. Mỗi lần vua đi tuần thú ở chốn đồng bằng cho đến chốn sơn khê này đều sai quan đến tế thần núi Hải Sơn để tạ ơn, cầu cho đi đến nơi về đến chốn.

              Đỉnh cao nhất chót vót của núi Hải Vân được đặt tên là Cao An Lãnh, cao 1.172 m. Thì ra, với độ cao 496 mét của đèo này, đường đi dốc đứng cheo leo vẫn có in dấu chân người. Đi thông qua, xuyên lại giữa đất hai xứ Thuận – Quảng thấm mệt chớ đâu phải chỉ thu ngắn thời gian “Mai Huế xế Hàn”.

              Thấy vậy vua Minh Mạng đã khiến ngăn lấp lối đi băng, dập ngay con đường tắt “vô kỷ cương” và lại cho đặt binh lính canh giữ. Và quan lộ thông thương giữa hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên Huế nằm vắt qua đèo Hải Vân được sửa sang, nâng cấp mở rộng nhiều lần dưới triều Minh Mạng để cho dân tiện bề đi lại.

              Đến năm Thiệu Trị thứ 2, 1842 nhà vua ra lệnh cấm tuyệt việc đi lại bằng lối mòn của đường tắt với nhiều ngã rẽ bằng cách cho trồng nhiều loại cây có nhiều gai góc để ngăn chặn sự xâm nhập của những kẻ có mưu đồ xấu. Hẳn không phải chỉ là để ngăn ngừa chuyện lắt léo của kẻ ưa đi đường tắt, cũng không vì do kiêng cữ mà ban lệnh cấm. Hễ ai còn đi đường tắt mà bị bắt được đều bị nghiêm trị theo đúng phép nước.

              Cũng dưới thời Minh Mạng, trên đèo Hải Vân có đặt sở quan sát đường biển và mặt biển, quan chức Thủ uý, Thủ ngự phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc công việc canh phòng ở chốn biên ải. Thời ấy đã biết sử dụng ống Thiên lý để nhìn xa tận cảng Đà Nẵng. Trọng trách này được giao lại cho một thị vệ làm nhiệm vụ quan sát và phải phân tích hình ảnh, hiện tượng tàu ngoài xâm nhập trái phép hải phận và kịp thời phi báo về kinh đô Huế.

              Tháng 8 năm Mậu Thân, 1848 vua Tự Đức sai đắp thêm pháo đài ở cửa ải Hải Vân. Năm sau, tháng giêng năm Kỷ Dậu, 1849 lại đặt thêm 7 cỗ súng ở cửa ải Hải Vân: 1 cỗ súng lớn bằng đồng Thảo nghịch tướng quân; 4 cỗ súng Khoá hải hạng lớn bằng đồng; 2 cỗ súng Quá sơn bằng đồng. Chỉ ngay đến việc đặt tên các cỗ súng đã nói lên ý nghĩa của việc lo phòng thủ đất nước.

              Đến cuối đời Tự Đức, cái hoạ mất nước không tài nào tránh khỏi. Kỳ Xuyên Nguyễn Thông (1827 – 1894) lúc đi qua đèo Hải Vân đã cảm tác thành thơ nói lên nổi nhục của một thời nước mất chủ quyền:

Đá dựng biên thành hiểm trở,

Gió xoa mây toả sương mù

Đường lên dốc đứng kỳ thu

Quan Tây cỡi ngựa đến từ nẽo xa.

Trên thành quân sĩ chạy ra.

Sợ khai ải chậm bị la bị rầy.

              Đèo Hải Vân đã đi vào lịch sử sâu thẳm, vinh có, nhục có, lẽ ra đèo Hải Vân phải sáng lên, thể hiện dáng đứng oai hung của dân tộc Việt, vừa là ngọn hải đăng soi sáng, chiếu toả cả trí tuệ lẫn tài năng tuyệt vời của những bậc vua chúa đã có công đi mở nước và dựng nước.

              Ngày trước, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng phân định lại địa phận giữa hai xứ Thuận Quảng vào năm Hoằng Định thứ 5, 1604 đã chọn Hải Vân làm ranh giới thiên nhiên. Bờ bắc của sườn núi là thuộc về Thuận Hoá và bờ nam là đất Quảng Nam. Hoài bão lớn lao của chúa là những mong hai xứ dồn hết sức lực để tìm cách kinh doanh làm cho nước mạnh, dân được hưởng lộc mưa móc.

              Nay thời mới, có cách nhìn khi lằn ranh giữa các tỉnh không phải để chia nước thành từng vùng căn cứ. Có những vấn đề, những sự kiện những công trình đòi hỏi một tỉnh hoặc thành không thể nào đơn phương lên phương án và thực hiện theo lối làm ăn riêng lẻ được. Do đó đầu tư kinh doanh cho quần thể di tích văn hoá lịch sử Hải Vân không thể nào đơn điệu chỉ là tỉnh, ngành nào chuyên lo việc ấy mà không có tầm nhìn, cách phối hợp, vượt lằn ranh địa phận tỉnh để nâng lên tầm quốc gia.

             Có thể nói rộng ra là Hải Vân phải được xem là điểm nóng của ngành du lịch chung cả nước, nó là điểm tựa, là cột sống để làm cho miền Trung có sức bật đi lên trở thành giàu mạnh trong tương lai rất gần. Hải Vân là sống lưng của con rồng Việt Nam đang chuyển minh vươn lên ở vùng Đông Nam Á trong những năm còn lại của thế kỷ 20.

              Lấy Hải Vân làm điểm du lịch bởi lẽ đó là cứ điểm ăn nhập theo thế nối kết liên hoàn với Đà Nẵng, Hội An, Ngũ Hành Sơn, Lăng Cô, Cầu Hai, Bạch Mã, Tư Hiền, Tuý Vân, Huế, … Về mặt lịch sử Hải Vân là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là đỉnh quan sát để thấy rõ con rồng Việt Nam chuyển mình như thế nào cho hài hoà giữa ba miền đất nước.

              Bởi vậy, các ngành trực tiếp liên quan đến du lịch, đầu tư kinh doanh như giao thông vận tải, công nghiệp, lâm nghiệp, y tế, hải quan, quốc phòng … tất cả đều phải có dự phóng, phương án để hỗ trợ đẩy mạnh cho trận thế du lịch đang tiến công. Du khách đến miền Trung: Quảng Nam – Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình không ròng chỉ là chuyện đi chơi, đi tìm kỷ niệm mà họ đến để đầu tư, kinh doanh. Họ còn đến tham quan, hành hương, tìm hiểu, nghiên cứu cái nhất thời và cái vĩnh cửu, về các nền văn hoá cổ đại trong đó có nền văn hoá Chămpa.

              Việt Nam nghèo vốn, nói trắng là thiếu tiền, thiếu ngoại tệ, trình độ về khoa học công nghệ chưa cao nhưng không thiếu nhân lực, trí tuệ, chất xám …

              Núi dẫu cao vòi vọi, núi vẫn là đất. Nay không phải từ đất mà đi lên mà còn từ nước, từ kim khí, từ thảo mộc, từ năng lượng và điện khí. Thiên nhiên sẽ ủng hộ nếu ta biết khai thác, khống chế theo quy luật, hợp thời cơ, đúng thời vận.

              Cho hay đến lúc, trời cũng chìu người, huống chi là khách đến du lịch, đầu tư kinh doanh vào đất cuống họng của xứ Thuận Quảng này.

                                                                                            Huế, 1-4-93  

Lê Quang Thái
Các tin khác:
Trang chủLiên hệ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.