Hình ảnh hoạt động
KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG TẬP SAN B.A.V.H PHỤC VỤ CÔNG CUỘC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA HUẾ HIỆN NAY
Cập nhật ngày: 26/01/2015 08:57:38
Hội Những người bạn Cố đô Huế (Association des Amis du Vieux Hué-B.A.V.H) đã được thành lập vào cuối năm 1913 theo đề xuất của linh mục Léopold Cadière và sự chung tay xây dựng của những bạn bè trong giới trí thức, nhân sĩ ở Huế. Hội đã đặt ra trụ sở tại tòa Tân Thơ Viện trong Thành Nội Huế (xây dựng năm 1908 đời vua Duy Tân, qua đời Khải Định được đổi thành “Bảo tàng Khải Định” rồi sau đó đổi thành Tàng Cổ Viện và nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế). Mục đích của hội là “sưu tầm, bảo tồn và truyền đạt những dấu tích xưa về chính trị tôn giáo, nghệ thuật và văn học, Âu châu cũng như bản xứ, liên quan đến Huế và phụ cận” .

Bản khắc gỗ tập san B.A.V.H (Bulletin des amis du vieux Hué)
Tập san B.A.V.H (Bulletin des Amis du Vieux Hué) vốn là nội san của Hội Những người bạn của Huế xưa (Association des Amis du Vieux Hué). Tập san ra đời năm 1914, đến giữa năm 1944, trước những biến động của thời cuộc lịch sử, thì bị đình bản và Hội Những người bạn của Cố đô Huế tự động giải thể. Tập san này đã được đánh giá là một trong các tạp chí/tập san có giá trị nhất ở Đông Dương thời đó, chuyên viết về các vấn đề văn hóa, lịch sử, địa lý, nghệ thuật, tôn giáo, phong tục, mỹ thuật, ngôn ngữ, dân tộc học… Ngày nay, tập san B.A.V.H đã trở thành một nguồn tư liệu rất phong phú, quý hiếm và có giá trị về nhiều mặt cho những ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu về triều Nguyễn, về Huế xưa.

1. Nguồn tư liệu viết được đề cập trong B.A.V.H

Thành lập và tồn tại trong suốt 30 năm (1914-1944), hoạt động đúng tôn chỉ và mục tiêu đã đề ra, tập san B.A.V.H đã để lại một sản phẩm văn hóa học thuật, lịch sử đồ sộ với 121 số in, đăng tải 744 bài viết và gần 13.000 trang của khoảng  200 tác giả người Pháp và người Việt Nam. Nội dung nổi bật nhất mà tập san đề cập là những đề tài chính sau: Kinh thành Huế và phụ cận; Lịch sử Cố đô Huế và An Nam; nghệ thuật xứ Huế; Ngôn ngữ học, Dân tộc học, Văn hóa dân gian và cung đình Huế.v.v.

 Nguồn tư liệu về Kinh thành Huế và phụ cận là những tư liệu có thể xem là hàng đầu của tạp chí B.A.V.H. Nội dung của mảng đề tài là nghiên cứu về Kinh đô Huế từ thời các chúa Nguyễn cho đến năm 1944. Nhiều bài viết đã đề cập đến lịch sử Kinh đô Huế từ thời chúa Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 cho đến khi vua Gia Long lên ngôi (1802). Các bài viết cũng mô tả quá trình khởi công xây dựng Kinh thành, Hoàng cung Huế từ năm 1804- thời vua Gia Long và hoàn thiện vào năm 1833- thời vua Minh Mạng. Tất cả được tác giả Võ Liêm trình bày khá chi tiết trong bài: Kinh đô Thuận Hóa[1]. Tác giả Cao Văn Chiểu, trong các bài viết của mình không chỉ đề cập đến lối kiến trúc Huế mà còn có những bài nghiên cứu so sánh và hệ thống cả kiến trúc đời Trần qua đó cho chúng ta thấy dòng cháy của văn hóa, kiến trúc của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

Một trang in của tập san B.A.V.H năm 1914

 Kiến trúc vùng Huế: Kinh thành, chùa chiền, đền miếu, lăng tẩm được đề cập ở những mức độ khác nhau, thể nét đặc trưng của văn hóa triều Nguyễn. Một  lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng) với hai nấm mộ song song của nhà vua và người vợ đầu cùng nếm mật nằm gai trên bước đường sự nghiệp đã gợi lại con người và sự nghiệp của vị vua đầu tiên của triều Nguyễn được mô tả với phong cách u nhã, cổ kính. Nơi đây còn lưu lại lăng mộ các thân nhân của vua Gia Long: lăng của Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, người vợ thứ hai của nhà vua; lăng Trường Phong của Ninh Vương (1725-1788); lăng Thoại Thánh của mẹ vua Gia Long; lăng công chúa Ngọc Tú, chị của nhà vua và lăng vợ vua Ngãi Vương. Các lăng vua Minh Mạng, lăng vua Thiệu Trị, lăng vua Tự Đức đều được mô tả chi tiết, qua đó cho chúng ta thấy mỗi lăng đều có một thể thức riêng, thể hiện tính cách, phong cách và sở thích của mỗi vị vua và dấu ấn của từng giai đoạn lịch sử.

 Nội dung của tập san cũng đề cập đến cuộc sống trong cung đình: vua chúa, hoàng hậu, hoàng thái hậu, công chúa, hoàng tử, thái giám, thái y, hoàng thân quốc thích… Các hoạt động nghi lễ của triều đình được tổ chức như lễ Đăng quang, lễ thiết triều, lễ tế Nam Giao, lễ tang các vua, lễ Tấn Phong, lễ phong tước, lễ cưới của hoàng tử, công chúa… Các phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, âm nhạc cung đình cũng được nhắc đến trong nội dung phong phú của tập san. Các hình thái sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần, được thể hiện qua vật thể: nhà cửa, đồ dùng, y phục, huy chương, thẻ bài... và biết bao thứ khác liên quan đến đời sống cung đình cũng như dân gian xứ Huế; y phục thiết triều của các quan[2]; các loại huy chương của Nam triều: Kim Khánh, Kim Bội, Kim Tiền, thẻ bài[3]; các quyển sách vàng, sách bạc, khuôn dấu, ấn triện[4] đều được sưu tập, nghiên cứu, trình bày.

Ngoài ra, chủ đề về đền, chùa, am, miếu đã được đề cập nhiều trong nội dung của tập san này. Chẳng hạn chùa Thiên Mụ, chùa Quốc Ân, Bảo Quốc, Diệu Đế, Từ Hiếu, Túy Vân, đền Voi Ré, đền Chiêu Ứng, điện Huệ Nam... đều được mô tả một cách tỉ mẫn. Bên cạnh đó, các vị trí thờ cúng của dân gian như dưới gốc đa, đầu sông, bến nước mà hai tác giả: Bác sĩ A.Sallet và ông Nguyễn Đình Hòe đã bỏ công tìm kiếm, liệt kê, đánh số[5]. Tác giả Đào Thái Hanh đã để lại nhiều bài nghiên cứu hấp dẫn về các vị nữ thần làm tăng thêm nét cổ kính của Cố đô Huế với một màu sắc huyền hoặc biểu thị lòng tin vào thần linh của người dân vùng Huế xưa: Histoire de la déesse Thiên Y A Na (Lịch sử nữ thần Thiên Y A Na); La déesse Liễu Hạnh (Nữ thần Liễu Hạnh); Histoire de la déesse Thái Dương Phu Nhơn (Chuyện Thánh mẫu Thái Dương phu nhân); Histoire de la déesse Kỳ Thạch Phù Nhơn (Sự tích của nữ thần Kỳ Thạch phu nhơn); hay một bài viết khác, được ví như những trang sử đẹp về cuộc đời của đại thần Phan Thanh Giản, một gương mặt lớn của lịch sử Việt Nam.

Bên cạnh các lễ nghi cung đình, mảng tư liệu về tôn giáo, tín ngưỡng của người An Nam cũng được thể hiện nhiều trong B.A.V.H, trong đó nổi bật các công trình giá trị của linh mục L.Cadière, đáng chú là các tác phẩm: "L'Annam" (1931) và "Introduction à l'étude l'Annam et du Champa" (Hướng dẫn nghiên cứu về An Nam và Champa) và bài "La Famille et la religion en pays Annamites" (Gia đình và tôn giáo ở các xứ An Nam) (1930). Tác giả Nguyễn Đình Hòe đã có nhiều chuyên đề nghiên cứu về văn hóa lịch sử Huế có giá trị như: Note sur les pins du Nam Giao (Esplanade des sacrifices) (Ghi chú về những cây thông ở Nam Giao); La pagode de l’éléphant qui barrit (Miếu Voi Ré); Le Hue Nam Diên (Điện Huệ Nam); Notes sur les cendres des Tây Sơn dans la prison du Khám Đường (Ghi chú về các tro di cốt Tây Sơn trong Khám Đường); Histoire de I’Ecole des Hâu Bô de Hué (Lịch sử trường Hậu bổ ở Huế); Les Barques royales et mandari-nales dans le vieux Hue (Thuyền ngự và thuyền quan thời Huế xưa); La pagode de Diệu Đế (Chùa Diệu Đế); Quelques coins de la Citadelle de Hué (Một vài nơi ở Kinh thành Huế). Các công trình nghiên cứu này xưa nay được giới trí thức đánh giá cao. Nếu không có sự biên khảo với tầm vóc lớn như thế, thì giới nghiên cứu ngày nay thiếu hẳn nguồn tư liệu, đặc biệt là tư liệu ảnh phục vụ cho công tác nghiên cứu.

Với các nguồn tư liệu dân gian qua giai thoại, câu hò, câu hát, ca dao, tác giả Nguyễn Đình Hòe cũng có phác thảo bước đầu về những đặc trưng văn hóa dân gian xứ Huế; bài khảo cứu này lại có thêm phần chú thích phong phú và uyên bác của linh mục L.Cadière, mở ra một số gợi ý nghiên cứu địa danh học xứ Huế[6].

 Trong nội dung tập san còn đề cập đến những vấn đề khác về các dân tộc miền núi như phong tục tập quán, nghệ thuật, văn học dân gian của các dân tộc này. Vốn là đất thuộc vương quốc Chămpa, nên xứ Huế còn khá nhiều vết tích Chàm. Đề tài về Chămpa vì thế, là một đề tài hấp dẫn các cộng tác viên của B.A.V.H.

Các tác giả của B.A.V.H rất chú trọng khía cạnh nghệ thuật nói chung và mỹ thuật nói riêng. Linh mục L.Cadière và các cộng tác viên của ông đã có nhiều công trình cho mảng đề tài này. Tác phẩm "L'art à Hué" (Mỹ thuật ở Huế) của L.Cadière[7] là một công trình rất có giá trị. Phần giới thiệu của ông về tính chất mỹ thuật Huế được khám phá với các sắc thái: cách điệu hóa của các mô típ trong trang trí làm cho mỹ thuật Huế phong phú, đa dạng nhưng đồng thời cũng bộc lộ sự xem nhẹ mô tả hiện thực. Mỹ thuật Huế có màu sắc tôn giáo, đó cũng là một tính chất đặc thù của văn hóa Việt Nam. Việc sưu tập các mô típ trong trang trí của mỹ thuật Huế đã đem lại giá trị cho tác phẩm. Trước sự thoái hóa và mai một trong nền mỹ thuật truyền thống bản địa, có người đã đề ra những phương pháp để chấn chỉnh, giải cứu và từ mô phỏng, tự nghiên cứu các tác phẩm của quá khứ dần sẽ xuất hiện những hình thái mới thích ứng với nhu cầu của giai đoạn và phù hợp với truyền thống. Vấn đề mỹ thuật bản xứ được coi trọng và từ đó nảy sinh đường lối giáo dục mỹ thuật độc lập, để cho người địa phương tự lo lấy vốn của chính họ, khai thác nền mỹ thuật truyền thống.

Đề tài âm nhạc chưa được nghiên cứu nhiều, chỉ có một bài viết về khái lược tính chất của âm nhạc Đông Phương, một số nhạc cụ như cây đàn nguyệt, cây đàn tranh, xuất hiện trong bài viết của Hoàng Yến. Có thể nói, trong B.A.V.H, mảng đề tài này chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu.

 Đàn tranh trong một số xuất bản của tập san B.A.V.H năm 1914

Đặc biệt, tập san đã dành nhiều trang nghiên cứu về lịch sử Huế và những vấn đề liên quan từ khi Pháp chiếm Việt Nam, như công cuộc can thiệp của Pháp vào Việt Nam, các cuộc phế lập ở Huế, cuộc bôn ba của vua Hàm Nghi và căn cứ Tân Sở, những lễ nghi của Nam triều. Lịch sử Huế thời cận đại nằm trong khuôn khổ của lịch sử Việt Nam (An Nam) nửa đầu thế kỷ XX, bao gồm các nguồn lịch sử triều Nguyễn: từ Gia Long đến Bảo Đại; cuộc xâm lược An Nam của Pháp; công cuộc bảo hộ của Pháp.

Sự kiện lịch sử, chính trị, xã hội đan quyện vào nhau trong dòng chảy của thời gian khó biên liệt riêng lẻ, tuy nhiên ta tạm chia như trên để dễ tìm hiểu.

Triều Nguyễn mở đầu với hoàng đế Gia Long, sau khi lên ngôi đã tập trung xây dựng Kinh đô của triều đại, được trình bày ở trên, trong phần tư liệu về Kinh thành Huế.

Dưới triều Gia Long, B.A.V.H đã cung ứng một số tư liệu trong chuyên mục: "Les Français au service de Gia Long" (Những người Pháp phụng sự Gia Long)

Đây là tư liệu phong phú, đóng góp cho lịch sử triều Nguyễn nói riêng, là tiếng nói khách quan từ  góc nhìn của người Pháp để bổ sung cho chính sử nước ta, nhất là những chỗ còn bỏ trống hoặc "tồn nghi". Trong các tác phẩm "L'Annam" "Hướng dẫn nghiên cứu An Nam và Chămpa", đều có đề cập khái lược lịch sử giai đoạn sôi động đầy xáo trộn và cũng đầy đau thương của lịch sử An Nam dưới thời cận đại. Nhưng bên cạnh đó, trong B.A.V.H, còn có nhiều bài viết chi tiết, tỉ mỉ, rất đáng tham khảo. Từ cuộc chiến khởi đầu ở Đà Nẵng và tiếp đó bao biến cố dẫn đến hòa ước 1862 và phái bộ Phan Thanh Giản. Rồi đến các hòa ước 1872, 1874, 1883 và cuối cùng là biến cố ngày 5-7-1885.

Các tác giả hiển nhiên không thể nằm ngoài chỉ đạo chính trị của người Pháp đương thời. Vì thế, các bài viết không tiếc lời cổ vũ ngợi ca công việc của họ trên đất nước An Nam. Và đương nhiên, họ không thể quên những công trình cụ thể mà họ đã ra công xây dựng. Trong chiều hướng đó, các công trình về giao thông vận tải, cầu cống, đường sá được đề cập nhiều với vai trò của Sở Công binh Đông Dương: thành lập hệ thống công binh miền Trung và xưởng Công binh ở Huế, việc tu sửa con đường qua đèo Hải Vân, nghiên cứu thành lập hệ thống đường sắt Đông Dương, bắc các cầu sắt hoặc dự án Debay với công cuộc nghiên cứu "con đường núi" từ Huế đến Đà Nẵng. Bưu điện với phương tiện mới là một sắc thái của nền văn minh Âu Tây. Và lịch sử bưu điện ở Đông Dương mở đầu từ 1860 với đường dây từ Sài Gòn - Biên Hòa và phát triển liên tục qua nhiều giai đoạn, đồng thời cũng có bài tìm hiểu hệ thống "trạm dịch" của An Nam thời xưa.

Tập san B.A.V.H không quên đề cập khía cạnh du lịch về cảnh quan Huế nên đã dành chuyên mục Huế đẹp để ca ngợi cảnh sắc kỳ diệu, tất cả tạo nên phong vị đặc biệt của riêng Huế.

Nguồn tư liệu viết trong B.A.V.H được đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến kiến trúc cung đình,  văn hóa, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của vùng đất Huế. Đây là nguồn tư liệu rất quan trọng để cho những ai tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa Huế nói chung và triều đình Nguyễn nói riêng.

2. Nguồn tư liệu minh họa của tạp chí B.A.V.H

Mảng tư liệu vô cùng quan trọng và lý thú đó là nguồn tư liệu minh họa, tranh ảnh, sơ đồ, chân dung, tượng hình vẽ, mẫu trang trí, ảnh chụp các loại đính kèm bài viết để làm sáng tỏ nội dung cần giải thích. Nguồn tài liệu minh họa được tập san B.A.V.H chú trọng đánh số, làm bản dẫn riêng. Không kể một số lớn hình vẽ rải rác ở các trang thì tập san B.A.V.H đã giới thiệu đến bạn đọc trên 2.500 tranh ảnh, minh họa, bản đồ, sơ đồ để làm sáng tỏ và minh chứng cho nội dung trình bày trong mỗi bài viết. Với bài viết nhan đề: “Kinh thành Huế: Bản đồ và địa danh học”, H.Cosserat đã cung cấp 28 bản đồ về Kinh thành Huế do người Pháp thực hiện trong thế kỷ XIX. Các khu vực của Kinh thành: Hoàng thành, Tử Cấm thành; các cửa: Ngọ Môn, Đại Cung Môn và một số cung điện: Cung Càn Thành, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Khôn Thái, Thế Miếu, Thái Miếu, Tả Vu, Hữu Vu… được L.Cadière tìm hiểu và ghi lại lịch sử của chúng. Ngoài ra một số cơ sở thuộc Kinh thành Huế cũng được nghiên cứu kỹ càng. Đó là các địa điểm: Hồ Tịnh Tâm, trường Quốc Tử Giám, kho thuốc súng, vườn Thường Thanh, vườn Thư Quang hoặc Phu Văn Lâu, kho lúa Hoàng gia Tôn Nhơn Phủ hay Thượng Thiện, Lý Thiện, Tể Sanh, Trấn Phủ (Khám đường Huế xưa), trường Hậu Bổ... Tất cả cung cấp cho bạn đọc những kiến thức về mọi mặt của Kinh thành Huế. Và một số di tích khác thuộc phía nam của thành phố Huế: trường Quốc Học, Tòa Khâm, Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong Thế chiến I; ở dọc tuyến về Thuận An thì có: Ụ bắn Thanh Phước, kho lúa Triều Sơn Đông, Tiên Nộn...

Sơ đồ xưa nhất có niên đại 1819 do thuyền trưởng L.Rey thực hiện[8] thả neo tàu đậu ở Thuận An. Sơ đồ được đánh giá là tương đối chính xác. Tiếp đó sơ đồ được ghi lại của Đại tá người Tây Ban Nha đến Huế năm 1863 để ký hòa ước với triều đình Tự Đức[9], sơ đồ này được vẽ bởi người Việt Nam nên chú thích toàn bộ bằng Việt ngữ.

Đặc biệt có sơ đồ được vẽ năm 1868 do Trung úy Hải quân Puech, sơ đồ này có nhiều chi tiết đáng lưu ý, về hệ thống các đồn, đập chắn dọc theo con sông từ Huế đến Thuận An, lại có ghi chú thêm độ sâu để hướng dẫn tàu thuyền.

Ngoài bản đồ và sơ đồ về sông Hương còn có nhiều bản đồ về Kinh thành Huế.

Lăng tẩm của các vua Nguyễn như vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định được nghiên cứu kỹ và có nhiều tư liệu minh họa, đây là nguồn dữ liệu phong phú đa dạng rất cần thiết để minh họa cho bài viết. Các hoạt động nghi lễ ở Kinh thành được cụ thể hóa qua sơ đồ như lễ tế Nam Giao, lễ Tức Vị, Tấn Phong, các cuộc tiếp kiến ngoại giao.

Đối với chùa, đền, am miếu cũng có những sơ đồ, tranh ảnh minh họa mang giá trị về nội dung cũng như hình thức của đối tượng được nói đến. Cảnh chùa cũng không kém phần đặc sắc cũng đã được ghi lại qua ống kính, hình ảnh đó được xem như là biểu tượng của Huế.

Con đường từ Huế đi Đà Nẵng phải qua đèo Hải Vân là một tuyến đường dài hiểm trở hấp dẫn từ ngày xưa. Bài viết của H. Cosserat “Quan lộ từ Đà Nẵng đến Huế” đã cung cấp nhiều sơ đồ và lộ trình của các thương gia… người Âu từ những thế kỷ trước.

Họa đồ lũy phòng thủ đèo Hải Vân được đề cập trong bài viết “Quan lộ từ Đà Nẵng đến Huế” của H. Cosserat

Nói chung kho tàng tư liệu minh họa trong B.A.V.H có rất nhiều bản đồ và sơ đồ toàn cõi Đông Dương và các khu vực khác kể cả những vùng hải đảo xa xôi.

Nguồn tư liệu ảnh được xem là tài liệu quý giúp cho việc nghiên cứu. Phong cảnh Kinh thành Huế là nguồn đề tài vô tận, không một địa điểm, thắng cảnh nào của Huế mà không được thu vào ống kính như ảnh phong cảnh Huế một thời như cầu Trường Tiền, Phu Văn Lâu, Ngọ Môn, Kỳ Đài…

Các cung điện, phủ đệ, dinh thự, lăng tẩm đều được chụp ảnh lại nhằm giúp chúng ta thấy được sự phong phú về hình dáng, kích thước, phong cách, cảnh quan. Bên cạnh đó, trong B.A.V.H còn có một nguồn ảnh rất phong phú về đền, miếu như hình ảnh về điện Huệ Nam, đền Thân Huân, đền công thần…

Trong kho tư liệu minh họa của tập san B.A.V.H còn có hình ảnh ngôi nhà Việt Nam tiêu biểu, đó là ngôi nhà ba gian hai chái, nhiều cột với trang trí nội thất, bàn thờ, hoành phi, câu đối, là một đề tài quan trọng và được đề cập nhiều.

Các hình ảnh về lễ nghi cung đình triều Nguyễn cũng đã được các nhiếp ảnh ghi lại các nghi lễ đăng quang, phong tặng, lễ tứ tuần, ngũ tuần đại khánh của vua và hoàng hậu. Trong đó đáng kể nhất là lễ tế Nam Giao được ghi lại qua một loạt hình ảnh chuẩn bị phẩm vật tế lễ đến vị trí hành lễ, quan chức hành lễ, quân lính tham dự hành lễ, diễn tiến của cuộc lễ...

 Đồ tế tự trong lễ tế Giao

Tạp chí đã để lại 225 hình ảnh minh họa về các loại tàu, ghe thuyền Việt Nam từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái, đặc biệt còn nhiều bức ảnh về các cửa biển Đà Nẵng…

Với tác phẩm “Mỹ thuật Huế” linh mục L.Cadière và các họa sĩ Tôn Thất Sa, Nguyễn Văn Nhơn, Lê Văn Tùng đã thực hiện các mẫu sưu tập trang trí của mỹ thuật ở Huế. Đây là một công trình có giá trị không những cho việc tìm hiểu mỹ thuật ở Huế mà còn là những ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như động vật, hoa, lá, cành, tĩnh vật, chữ Hán, các hình kỹ hà; các hình tượng điêu khắc ở Huế như voi, ngựa, long lân, tượng quan văn, quan võ.

Ngoài ra trong tập san B.A.V.H còn có nhiều tranh ảnh xưa về Việt Nam, có nhiều tranh ký họa. Các tranh có khi là những nét phác họa đơn sơ nhưng cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa thực tiễn. Đôi khi chúng lại toát lên được cái thần của đối tượng miêu tả mà ảnh chụp không có được.

Cuối cùng không thể quên hai bức tranh khắc phong cảnh Huế. Đó là hai bức trong số hai mươi thắng cảnh ở Huế với tiêu đề quen thuộc: “Trùng minh viễn chiếu”“Hương Giang hiểu phiếm”. Qua hình ảnh này chúng ta thấy được quá khứ một thời kỳ huy hoàng với cảnh vật thiên nhiên như một tuyệt tác.

Tóm lại: Nguồn tư liệu minh họa trong tập san B.A.V.H rất phong phú, gồm nhiều thể loại như: sơ đồ, bản đồ, ảnh chụp, ảnh vẽ, tranh… giúp cho chúng ta thấy được một cách cụ thể về phong cảnh, lễ hội, đường đi, những sinh hoạt đời thường của người dân Huế, cũng như những hoạt động cung đình. Các bức ảnh chính là minh chứng sinh động nhất cho sự hiện hữu về giá trị lịch sử, bổ sung thêm nguồn tư liệu quý giá cho công tác nghiên cứu, đặc biệt là công tác trùng tu di tích, phục dựng lễ hội, khi mà những mô tả, những cập nhật về sự thay đổi, trùng tu di tích qua các giai đoạn lịch sử còn hạn chế trong nguồn tư liệu viết.

            3. Giá trị của nguồn tư liệu B.A.V.H trong công tác trùng tu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Huế

            Tập san B.A.V.H đã ấn hành được 121 tập và 1 tập danh mục các bài viết rất công phu. Mỗi năm B.A.V.H ra mắt bạn đọc được 4 số riêng biệt, trung bình 3 tháng 1 số. Có thể nói B.A.V.H là dạng chuyên san viết về các vấn đề văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, tôn giáo, phong tục, mỹ thuật, ngôn ngữ... của Huế và Việt Nam. Nó là  một trong các tập san/tạp chí khoa học nổi tiếng có giá trị nhất,và có tiếng vang rất lớn, được độc giả trí thức khắp Đông Dương thời đó đánh giá cao. Đây quả là một pho sách quý, một công trình khảo cứu văn hóa đồ sộ mà Linh mục Léopold Cadière và cộng sự đã để lại cho hôm nay và mai sau.

Bìa của tập san B.A.V.H năm 1917 và năm 1918

Ngoài việc giới thiệu kiến trúc của các cung điện trong thành nội, những đặc điểm của các lăng tẩm, những lễ lớn như “Tế Nam Giao”, tập san còn giới thiệu cả nghệ thuật sống của người dân Huế thông qua các bài viết về nhà rường, nhà vườn, những ngôi chùa cổ kính, những cảnh đẹp như sông Hương, núi Ngự, những xóm làng thơ mộng như Vĩ Dạ, Kim Long… Có thể nói B.A.V.H là một tủ sách quý - rất quý cho những người làm công tác nghiên cứu bảo tồn di sản Cố đô Huế.

B.A.V.H còn là nguồn tài liệu đề cập khá nhiều về việc xây dựng, tu bổ các công trình dưới triều Nguyễn, kể cả việc bài trí, sinh hoạt trong cung điện. Đặc biệt phần Mỹ thuật Huế, các họa tiết trang trí trên công trình kiến trúc Huế, khai thác mảng tài liệu này là một lời giải quan trọng cho các nhà quản lý, bảo tồn trùng tu di sản ở Huế.

 Điểm qua những bài viết, các công trình nghiên cứu dài hơi được đăng tải trên tập san B.A.V.H về lĩnh vực dân tộc học - nhân học cách đây đúng 100 năm có thể nói rằng các tác giả người Pháp lẫn người Việt đã đóng góp nhiều nguồn tư liệu, hình ảnh, tranh vẽ bổ ích, có giá trị văn hóa, lịch sử cho đến tận bây giờ. Ngày nay những ai muốn nghiên cứu về Huế xưa thì những thông tin ở trong B.A.V.H thật là đáng quý. Mảng dân tộc học mà chúng tôi khảo sát ở tập san này có thể được chia làm 3 nội dung rõ ràng đó mảng dân tộc học về Chămpa, mảng dân tộc học về người Việt và mảng dân tộc học về các dân tộc thiểu số Trường Sơn - Tây Nguyên. Mặc dầu có nhiều tác giả có các công trình viết ra chỉ nhằm phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa song nó vẫn có ý nghĩa về mặt dân tộc học một cách tích cực. Đây là nguồn tư liệu để chúng tôi đối sánh với các dân tộc để có được cái nhìn tổng quát về cuộc sống sinh hoạt của con người

 Qua những gì trình bày kỹ trong tạp chí, chúng ta thấy rằng, học giả Nguyễn Đình Hòe và Đào Thái Hanh đã để lại cho chúng ta ngày nay nhiều công trình nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế có giá trị giúp cho những nhà nghiên cứu Huế tham khảo.

Ở Huế xưa vốn là đất thuộc vương quốc Chămpa, nên xứ Huế còn khá nhiều vết tích Chàm. Điều này cho thấy, nhà khảo cổ học M.Colani được xem là người tiên phong và giới thiệu đầy đủ nhất về kĩ thuật của người Chămpa trong việc chinh phục thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của họ.

Khảo sát toàn bộ tập san B.A.V.H có thể thấy rằng những tác giả rất giỏi về thực địa, họ đã len lỏi vào những vùng sơn cước để rồi có những ghi chép về đời sống của các sắc tộc thiểu số Trường Sơn - Tây Nguyên bên cạnh việc giới thiệu về Chămpa mà họ có thế mạnh từ lâu. Các tộc người mà A.Laborde trình bày trong B.A.V.H chính là người Tà Ôi, Pa Cô hoặc Bru - Vân Kiều hiện nay đang cư trú tại huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế), huyện Đắckrông, Hướng Hóa, Vĩnh Linh (Quảng Trị). Nhiều phong tục tập quán những năm đầu thế kỷ XX mà A.Laborde mô tả hiện nay dù ít dù nhiều họ vẫn còn bảo lưu mà trong đó hiện hữu là họ vẫn tin vào thần linh như A.Laborde đã nói người miền núi thường cầu khấn các thần linh, mặt trời mọc, mặt trời lặn, mặt trăng, núi đồi để phán xử các tội nặng, tội nhẹ trong những lúc cúng bái được tổ chức bài bản bởi các thầy mo”.

Một vấn đề tưởng như đơn giản nhưng khi đọc rồi mới thấy được sự lôgíc và có ý nghĩa đối với giới khoa học thuộc chuyên ngành kiến trúc như bài nghiên cứu về nhà ở của người An Nam tại Huế và các vùng xung quanh, tác giả Léo Craste đã chú tâm vào việc miêu tả nhà ở của người dân, của những vị quan trung lưu nhà ở của hạng người này còn rất đông đảo ở nông thôn hoặc vùng phụ cận Huế. Các nếp nhà xưa ở Huế và hiện vẫn còn lưu giữ đó là các hàng rào vây quanh, cổng cửa ngõ, bức bình phong… những ai muốn tìm hiểu thì chính tác giả đã có sự miêu tả tỉ mỉ về cấu kiện các loại nhà đó là nhà rội, nhà rường, nhà lầu. Đây là nguồn tài liệu quý để các nhà kiến trúc nghiên cứu về nhà vườn ở Huế.

 Giá trị của các tư liệu đó còn giúp cho nhiều thế hệ sau này khi muốn nghiên cứu tìm hiểu về Huế xưa, triều Nguyễn và lịch sử Việt Nam. Những nhà biên kịch các chương trình của Festival Huế đã tham khảo B.A.V.H phục dựng các lễ hội ở Huế như lễ tế Đàn Nam Giao, lễ điện Huệ Nam, đàn Âm Hồn Huế, ẩm thực cung đình Huế...

Ngày nay, tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Huế trong cả nước đều lấy tập san Những người bạn Cố đô Huế làm tài liệu tham khảo chính khi viết sách, làm luận văn hoặc đề tài nghiên cứu, viết báo. Trong một cuộc họp của Bảo tàng Lịch sử & Cách mạng Thừa Thiên Huế tháng 9/2013 vừa qua về đàn Âm Hồn Huế, đề dẫn của cơ quan chủ quản cũng như phát hiểu của các nhà nghiên cứu đều lấy dẫn chứng tư liệu về đàn Âm Hồn Huế được mô tả trong B.A.V.H. Riêng nhà nghiên cứu nổi tiếng Phan Thuận An còn mang theo cả một tập Những người bạn Cố đô Huế để chứng minh sự thật lịch sử không thể chối cãi do chính người Pháp viết.

Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho rằng những nguồn thông tin tư liệu đã được đăng tải trong bộ B.A.V.H này phần nhiều là rút ra từ những tư liệu có sẵn trong các sách cổ xưa ở Việt Nam và ở Pháp cùng với những vấn đề đã được khảo sát qua các cổ vật, chứng cứ thu thập được trên thực tế đã làm tăng thêm độ tin cậy cho người đọc. Tuy vậy, cũng có một số tư liệu còn mang tính phỏng đoán, suy luận nên cũng có những mặt hạn chế về tính khách quan, chân thực của chúng. Và điều đó thì cũng là lẽ thường gặp trong một số bài nghiên cứu trước đây cũng như hiện nay. Tất nhiên qua quá trình sử dụng các tài liệu trong bộ B.A.V.H, người ta sẽ tìm thấy được những cái gì có hàm lượng lớn về tính khoa học thì có độ tin cậy và giá trị của nó càng cao.

Chính vì sự phong phú về nội dung của B.A.V.H mà đã hấp dẫn các nhà nghiên cứu ngày nay. Họ luôn luôn gắn bó một cách mật thiết và trân trọng. Thậm chí có nhiều người coi B.A.V.H như một kho tài liệu lớn để khai thác nhiều loại “tài nguyên” của đất nước và con người Việt - Pháp, mặc dù chưa phải là đầy đủ và toàn diện cho lắm. Tạp chí như­ một bộ bách khoa toàn thư­ về Huế cổ, nghiên cứu về lịch sử, văn hóa truyền thống Huế, trong đó có một số công trình nghiên cứu quý giá như­: Chuyên đề về nghệ thuật, chuyên đề về lăng tẩm, những sinh hoạt tập tục của triều đại nhà Nguyễn, công trình vẽ bản đồ Huế... Ngoài ra, còn tập hợp khá lớn những bài viết của ngư­ời phư­ơng Tây viết về Huế trong suốt 3 thế kỷ XVII, XVIII, XIX.

Người Pháp nhận ra được những nét bản sắc riêng của Huế và trong các chương trình quảng bá họ luôn chú ý đến yếu tố đặc trưng mà Huế sở hữu. Kiến trúc cố đô Huế vừa có giá trị thẩm mỹ vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Bác sĩ A.Sallet nhấn mạnh đến Huế khi nói về tài nguyên du lịch của xứ An Nam: “Nơi dừng chân lâu nhất trong chuyến du lịch An Nam phải là Huế. Huế, kinh đô xứ An Nam, nơi tập trung biết bao chuyện, chuyện quá khứ của hoàng gia, của triều đại đang trị vì, các dòng họ lâu đời, các truyền thống được bảo tồn. Đó là Kinh thành, là cung điện bên trong, chùa chiền, đền tạ và cái quan cảnh mỹ lệ làm nền cho tất cả”. Hệ thống lăng tẩm của Huế là những tài nguyên du lịch được A.Sellet giới thiệu kỹ lưỡng cho du khách. Đối với Kinh đô Huế, việc quy hoạch lăng tẩm dành cho vua chúa luôn là vấn đề cực kỳ quan trọng do quan niệm “sinh kí tử quy”. Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ảnh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ như bác sĩ A.Sellet có những nhận định tổng quan: “Chính về phía tây nam thành phố là vùng lăng mộ của triều đình An Nam, mộ phần các ông hoàng, các quan lại tập trung hoặc ở riêng lẻ. Ngoài ra là lăng tẩm các vị hoàng đế, phần lớn bao quanh trong các khu tường thành rộng lớn, nơi đây có vườn tược đền đài và một khu bí ẩn đóng kín với các cửa bằng đồng có niêm phong là nơi yên nghỉ của hoàng đế. Không gian của lăng Gia Long không dừng lại trong một khu tường thành. Hàng rào của nó là chân trời kỳ diệu với núi non đàng xa, xứng đáng với vị vua chiến sĩ. Lăng Minh Mạng thật dụng công, nhưng phần lớn vẻ đẹp của nó nhờ vào phong cảnh sẵn có. Lăng Tự Đức làm nghĩ đến một công viên khéo bảo trì, Thiệu Trị chừng mực hơn, còn lưu giữ nhiều đồ thất bảo đẹp ở lăng mình. Lăng Khải định lại khác hẳn các lăng khác”. Lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn được các nhà nghiên cứu đánh giá là các kiệt tác kiến trúc phong cảnh của Huế. Đây là những địa chỉ du lịch hấp dẫn không chỉ về kiến trúc cảnh quan mà còn là nơi du khách tìm hiểu khám phá về nơi yên nghỉ của các vị vua triều Nguyễn.

Qua những gì trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, tài nguyên du lịch của Huế đã được người Pháp nhận biết và phát huy giá trị ngay từ những năm đầu thế kỷ XX. Do vậy, du lịch trở thành cầu nối văn hóa Việt Nam với nhiều nền văn hóa trên thế giới. Hội Những người bạn Cố đô Huế đã quyết tâm triển khai các chương trình, các chủ trương lớn vừa phục vụ công cuộc bảo tồn vừa phát triển du lịch, làm phong phú hơn các loại hình du lịch nhằm thu hút du khách đến nhiều hơn, lâu hơn với Huế. Tạp chí B.A.V.H đã làm cho người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp phong cảnh Huế mà còn đúc rút được nhiều kinh nghiệm khi thực hiện một chuyến tham quan du lịch đất Huế. Và qua đó, chúng ta một lần nữa khẳng định rằng, Hội Những người bạn Cố đô Huế là hội tiên phong và có những đóng góp lớn đối với sự phát triển du lịch Huế đầu thế kỷ XX.

Mặt khác, hiện nay và trong tương lai gần, những công trình kiến trúc tại cố đô Huế như điện Cần Chánh, Đông Các, Tàng Thơ Lâu… đã và sẽ được phục hồi. Nguồn tư liệu B.A.V.H được khai thác, phát huy giá trị là việc làm hết sức cần thiết. Cụ thể hơn, đối với công cuộc trùng tu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế, có thể thấy vai trò của tạp chí rất quan trọng ở các khía cạnh sau:

- Huế là thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam, nơi đã tổ chức phục dựng thành công rất nhiều lễ hội cung đình gắn liền với triều Nguyễn nhằm phục vụ phát triển văn hóa, du lịch, đồng thời quảng bá được những nét văn hóa độc đáo riêng có của vùng đất cố đô. Để làm tốt hơn nữa công việc này, rất cần những thông tin đã được ghi chép trong tập san B.A.V.H chẳng hạn thông tin về việc bài trí, soạn nghi lễ, nghi thức làm lễ ở đàn Nam Giao, lễ tế ở các miếu, các nghi thức về nhạc lễ, múa cung đình, tuồng cung đình, các nhạc khí...

Tọa đàm khoa học "100 năm B.A.V.H và vấn đề tiếp xúc văn minh Đông - Tây đầu thế kỷ XX"

- Việc bảo tồn, trùng tu các di tích làm thế nào vẫn đảm bảo được tính nguyên gốc của nó đang là một vấn đề nhức nhối ở nhiều địa phương. Riêng cố đô Huế lại đang quản lý một Quần thể di tích triều Nguyễn đồ sộ, trong số đó có không ít công trình quan trọng chỉ còn là phế tích. Việc phục dựng như thế nào cho đúng vẫn đang là một bài toán khó đối với các nhà quản lý, bảo tồn. Tập san  B.A.V.H là tài liệu đề cập khá nhiều về đề tài họa tiết, trang trí, về việc xây dựng, tu bổ các công trình dưới triều Nguyễn, kể cả việc bài trí các đồ thờ tự, sinh hoạt trong cung điện. Nếu khai thác được mảng tài liệu này, thì đây cũng là một lời giải quan trọng cho các nhà quản lý, bảo tồn ở Huế.

- Những ghi chép về công năng sử dụng, cách bài trí, các nghi lễ diễn ra trong từng cung điện dưới triều Nguyễn ở tạp chí cũng có thể giúp cho các nhà nghiên cứu và nhà quản lý có hướng sử dụng các di tích sau khi đã trùng tu, phù hợp với cuộc sống đương đại và phát huy hiệu quả đối với du lịch./.

                                                                                                              P.T.H

[1] Võ Liêm (1916) , “Kinh đô Thuận Hóa”, Tạp chí Những người bạn Cố đô Huế, tr. 277-288.

[2] Nguyễn Đôn (1916), Y phục triều kiến của các quan văn, võ và của những người có học vị, tạp chí Những người bạn Cố đô Huế, tr.315-321.

[3] Đặng Ngọc Oánh (1915), “Huân chương, huy chương Việt Nam”, tạp chí Những người bạn Cố đô Huế, tr.391-400.

[4] H.Coserat (1915) “Trên các khuôn dấu Việt Nam”, Tập san Những người bạn Cố đô Huế, tr.341.

[5] Tập san Những người bạn Cố đô Huế, 1914, tr. 81-85, tr.183-186, tr.341-342.

[6] Cao Văn Chiểu (1944) , “Huế qua các thời đại”, Tạp chí Những người bạn Cố đô Huế, tr. 277-288

[7] L. Cadière,(1919) , "Mỹ thuật Huế" Tạp chí Những người bạn Cố đô Huế.

[8] Tập san B.A.B.H năm 1933, bản đồ số 1.

[9] Tập san B.A.B.H năm 1933, bản đồ số 2.2bis.

TS. Phan Thanh Hải
Các tin khác:
Trang chủLiên hệ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.