Hình ảnh hoạt động
TRÙNG TU DI TÍCH PHU VĂN LÂU
Cập nhật ngày: 12/10/2015 11:03:57
Được xây dựng từ thời vua Gia Long, ở vị trí đặc biệt quan trọng trên trục dũng đạo của Kinh thành, Phu Văn Lâu là công trình kiến trúc mang tính biểu tượng của kiến trúc di sản Huế. Như ý nghĩa của tên gọi Phu Văn Lâu, đây là nơi niêm yết những chiếu thư, chỉ dụ quan trọng của Hoàng đế và triều đình nhà Nguyễn, nơi công bố kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức. Dưới thời các vua Minh Mạng (1820-1841), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức(1848-1883), Khải Định(1916-1925), Phu Văn Lâu đều được lựa chọn là địa điểm tổ chức các cuộc vui chơi, yến tiệc trong dịp lễ Vạn thọ của nhà Vua. Ngày nay, Phu Văn Lâu trở thành địa điểm thường xuyên diễn ra các buổi sinh hoạt cộng đồng vào những dịp lễ hội hoặc trong những dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, dân tộc. Chính vì vậy, việc công trình Phu Văn Lâu đang được trùng tu đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu một cách tổng quan về quy trình và giải pháp trùng tu di tích kiến trúc Phu Văn Lâu.

1. Vài nét về lịch sử xây dựng và biến đổi của công trình

Khoảng đầu thế kỷ 19, tại vị trí Phu Văn Lâu hiện nay có một ngôi đình nhỏ, tên gọi là Bảng Đình, dùng làm nơi niêm yết các văn bản, chiếu chỉ của triều Nguyễn. Năm 1819, vua Gia Long cho triệt giải Bảng Đình để xây dựng một công trình kiến trúc 2 tầng xinh xắn, đặt tên là Phu Văn Lâu với chức năng gần tương tự Bảng Đình. Bản thân tên gọi của Phu Văn Lâu cũng mang hàm ý đó (Phu: phô ra; Văn: văn bản; Lâu: cái lầu. Phu Văn Lâu: tòa lầu để công bố các văn bản của triều đình). Kể từ thời điểm được xây dựng đến nay, qua gần 200 năm dâu bể, kiến trúc và diện mạo của Phu Văn Lâu đã có rất nhiều lần thay đổi. Theo các nguồn tư liệu lịch sử, ít nhất Phu Văn Lâu đã có 8 lần thay đổi lớn:

- Giai đoạn 1 (thời Gia Long đến hết thời Đồng Khánh, 1819-1888): Giai đoạn này không có hình ảnh tư liệu, mà chỉ có các tư liệu viết mô tả về công trình, theo đó Phu Văn Lâu là 1 công trình kiến trúc 2 tầng, bộ khung gỗ, mái lợp ngói hoàng lưu li.

- Giai đoạn 2 (trong khoảng thời Thành Thái 1889-1907): Phu Văn Lâu là công trình kiến trúc thuần gỗ, đặt trên nền cao không có lan can, mái thượng lợp ngói ống loại nhỏ, mái hạ lợp ngói âm-dương. Năm Giáp Thìn 1904, Phu Văn Lâu bị sụp đổ và lại được xây dựng lại vào năm 1905 (hình 1)

 

Giai đoạn 2 (thời Gia Long đến hết thời Đồng Khánh, 1819-1888)

- Giai đoạn 3 (thời Duy Tân 1907-1916): Phu Văn Lâu được mô tả kỹ trong bài viết của Nguyễn Văn Hiền (B.A.V.H, 1915). Trong bài viết, Phu Văn Lâu được minh họa bằng ảnh minh họa bằng một bức vẽ ký họa của học giả Gras. Theo đó, mái của Phu văn Lâu được lợp bằng ngói âm-dương, hệ khung gỗ sơn màu đỏ, tầng 2 có vách cửa tròn ở 2 mặt bên, mặt trước có khuôn cửa rộng ở giữa, mặt sau thưng ván kín, nền cao 5 bậc cấp không có lan can xây, không có chân tán cổ bồng (hình 2)

Giai đoạn 3 (thời Duy Tân 1907-1916)
 Giai đoạn 4 (thời Khải Định 1916-1925): Phu văn Lâu đã được sửa chữa, tôn tạo và trang trí đẹp hơn. Điểm nổi bật về sự khác biệt với giai đoạn trước là: Nền công trình đã được tôn cao lên thành 7 bậc cấp (có 1 bậc cấp bị lấp 1/2 dưới cote sân), phần chân cột xuất hiện chi tiết chân tán cổ bồng, xung quanh nền có lan can xây trổ ô hình quả trám, có xây trụ lửng ở vị trí 4 góc nền và 2 bên các bậc cấp, mái lợp lại bằng ngói âm-dương, mái thượng và mái hạ đều có hình thức réo mái rất duyên dáng. Ô cửa vuông ở mặt tiền tầng 2 đã được thay bằng ô cửa rộng hơn, hai bên có 2 vách đố bản, ở giữa để trống không có cửa, mặt hai bên hông vẫn là ô cửa tròn, mặt sau được thưng ván kín. Lan can được làm lại theo hình thức song-bản, trang trí bờ nóc, bờ quyết, rồng giao cũng đã thay đổi, được trang trí cầu kỳ tinh xảo hơn (hình 3)
Giai đoạn 4 (thời Khải Định 1916-1925)

 

- Giai đoạn 5 (thời Ngô Đình Diệm 1955-1963):  Phu Văn Lâu vẫn là công trình kiến trúc thuần gỗ, song phần vách ván và lan can tầng 2 đã bị thay đổi so với trước đó: ô cửa hình tròn và hình vuông đã bị bỏ đi và thay vào đó là ván thưng cả 4 mặt, lan can cũng đã được làm lại đơn giản hơn (chỉ có song, không có bản). Ngói lợp và phần trang trí mái vẫn giống giai đoạn trước đó, nhưng riêng có chi tiết Giao quày ở 4 đầu bờ quyết mái hạ đã bị lược bỏ và độ réo mái hạ không còn nữa (hình 4).

 

Giai đoạn 5 (thời Ngô Đình Diệm 1955-1963)

 

- Giai đoạn 6 (1968-1974): Bức ảnh đen trắng (hình 5) được đăng trong một tờ báo của Mỹ ghi chú năm 1972, tuy nhiên nội dung bài báo nói về tình trạng Huế sau Mậu Thân 1968. Trong bức ảnh này, công trình Phu Văn Lâu đã hơn bị xô nghiêng về góc Đông Bắc, bị hư hỏng rất nặng, mái lợp ngói âm-dương (phần mái hạ) đã bị đỗ vỡ hoàn toàn. Có thể đây là phần còn lại của Phu Văn Lâu từ thời Ngô Đình Diệm, tuy nhiên có điểm khác biệt là mặt tiền tầng 2 đã được trổ một lối cửa đi có 2 cánh cửa theo hình thức thượng song hạ bản.

 

Giai đoạn 6 (1968-1974)

- Giai đoạn 7 (1974-1994): chụp Phu Văn Lâu trước đợt trùng tu năm 1994. Công trình bị hư hỏng rất nặng, mái ngói bị sạt, cột kèo hở mộng, có thể quan sát thấy 04 chiếc cột xuyên 2 tầng, cột quyết, kèo quyết và con-son (thừa vinh) tầng 2 đã được làm bằng bê-tông. Đây là phần còn lại của Phu Văn Lâu kể từ đợt trùng tu năm 1974. (Hình 6)

 

Giai đoạn 7 (1974-1994)

- Giai đoạn 8 (trước thời điểm trùng tu năm 2015): Công trình đã được trùng tu vào năm 1994 trên cơ sở cấu trúc và hình thức của công trình cũ trước 1975 để lại. Điều đáng chú ý của đợt trùng tu năm 1994 này là: Ngói ống hoàng lưu ly, các ô cửa tròn và vuông tầng 2, hệ khung sơn màu đỏ đã được phục hồi lại theo hình thức công trình được mô tả trong B.A.V.H, 1915 và tư liệu hình ảnh giai đoạn 2 (thời Duy tân 1907-1916). Tuy nhiên điều bất hợp lý là: Phần thân và mái kiến trúc giai đoạn Thành Thái-Duy Tân lại được đặt lên nền móng của giai đoạn kiến trúc thời Khải Định-Bảo Đại (hình 7).

 

Giai đoạn 8 (trước thời điểm trùng tu năm 2015)

2. Hiện trạng Phu Văn Lâu và phương án phục hồi

2.1. Hiện trạng

Công trình Phu Văn Lâu trước khi hạ giải là kiến trúc kết hợp giữa bê-tông và gỗ, mái lợp ngói ống men vàng, được trùng tu chủ yếu vào các thời kỳ sau năm 1945, đặt trên nền móng được tôn tạo từ thời Khải Định (năm 1922). Chiều cao tổng thể Phu Văn Lâu, tính từ cote sân, là 10,899m. Chiều cao sàn tầng hai là 6,080m, kích thước nền mỗi cạnh là 12,230m. Diện tích công trình 145,2 m2. Mặt trước tầng 2 có tấm hoành phi đề 3 chữ đại tự “Phu Văn Lâu” bằng chữ Hán, hai bên có lạc khoản ghi năm xây dựng và năm trùng tu.

Nền móng Phu Văn Lâu được xây gạch, bên ngoài trát vữa, gồm 6 cấp, mặt nền lát đá Thanh, xung quanh có lan can xây gạch trổ ô hình quả trám; bốn góc và hai bên các bậc cấp lên xuống có xây trụ lửng; bậc cấp mặt trước hai bên có rồng thành bậc, xây gạch mặt ngoài đắp vôi vữa; cột quân có chân táng cổ bồng bằng đá Thanh; Toàn bộ hệ khung gỗ tầng 1 và đòn tay được sơn màu đỏ đậm, các hoạ tiết trang trí ở kèo tầng 1 sơn màu vàng, tầng 2 sơn màu đỏ đậm. Mái công trình lợp ngói ống men vàng loại vừa, có ngói câu đầu tích thủy, phía dưới lót ngói liệt chiếu men vàng; bờ nóc trang trí môtíp “lưỡng long chầu nguyệt”, bờ quyết, con giống và đầu đốc (khu đĩ) được đắp bằng vôi vữa gắn mảnh sành trang trí. Về tình trạng kỹ thuật:

- Nền móng xây bằng gạch đá mặt ngoài trát vữa kẻ chỉ trang trí, mặt trước và hai bên có bậc cấp, mỗi bậc 6 cấp (chỉ có mặt trước được trang trí hình rồng 2 bên). Bao xung quanh nền là lan can xây gạch trổ ô hình quả trám, ở các góc và hai bên bậc cấp có bố trí trụ lửng, nền nhà lát đá Thanh được chế tác theo kích thước của gạch Bát Tràng 300x300mm. Nền móng hiện được bảo tồn trong tình trạng kỹ thuật tốt, không nghiêng lún, các khối xây và bậc cấp đang rất chắc chắn, chỉ có một vài chỗ sứt mẻ ở lan can và các góc khuất phần đế móng.

- Hệ khung chịu lực đã được tu bổ nhiều lần, 04 cột nhất xuyên tầng, 04 cột quyết, 04 kèo quyết, xuyên đỡ sàn và con-son tầng 2 đã được thay bằng bê-tông, các cấu kiện khác làm bằng gỗ.

- Hệ mái công trình được lợp bằng ngói ống men vàng (được thay mới năm 1994). Các con giao giống trang trí mái, bờ nóc, bờ quyết, khu đĩ bằng vôi vữa có gắn mảnh sành trang trí, song hình dáng và tỉ lệ giữa các bộ phận đã bị thay đổi nhiều so với những bức ảnh tư liệu chụp thời Khải Định.

- Màu sắc các cấu kiện gỗ hệ khung là màu đỏ quét bằng sơn công nghiệp. Ở các cấu kiện kèo và đòn tay thì có màu đậm hơn, chỗ có chạm khắc trang trí sơn màu vàng. Bờ nóc, quyết, giao giống và ô hộc trang trí được tô quyét màu trang trí.

Phu Văn Lâu nằm ở vị trí trống trải. Bản thân công trình cũng không được thiết kế tường xây bao nên các cấu kiện chịu lực thường xuyên và trực tiếp chịu tác động của điều kiện khí hậu cùng các yếu tố xâm thực khác làm chất lượng của các cấu kiện chịu lực bị suy giảm nhanh. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc sập góc mái phía Đông Bắc của công trình ngày 15/5/2014 do 01 cột quân bị mục chân và có thể do tác động cộng hưởng của một ngoại lực khá mạnh.

2.2. Phương án phục hồi

Di tích Phu Văn Lâu đã có nhiều thay đổi trong quá trình tồn tại, song chỉ những thay đổi được thực hiện trong khung thời gian và không gian lịch sử gắn kết hữu cơ với sự ra đời và phát triển của di tích mới được công nhận là có giá trị lịch sử văn hoá. Cụ thể ở đây là: Những thay đổi của Phu Văn Lâu thông qua hoạt động trùng tu dưới triều Nguyễn được sử sách ghi chép, được xác minh cụ thể bằng các nguồn tư liệu tin cậy mới được xem là một giai đoạn có giá trị lịch sử văn hoá của di tích được nghiên cứu phục hồi. Ngoài ra, phương án phục hồi Phu Văn Lâu được lựa chọn còn được cân nhắc trên cơ sở đảm bảo hội đủ các điều kiện về tính chân xác tư liệu lịch sử và thể hiện cao nhất các mặt giá trị của di tích.

Phương án phục hồi được xác lập là tái tạo hình ảnh Phu Văn Lâu dưới thời Khải Định (1922), là thời kỳ gần nhất với hiện tại và là thời kỳ mà hình ảnh tư liệu Phu Văn Lâu còn được ghi lại nhiều nhất. Ngoài ra, hình ảnh của Phu Văn Lâu ở giai đoạn này chính là hình ảnh đã tạo nên tính biểu tượng kiến trúc của nó đối với di sản kiến trúc Huế và trở nên gần gũi, thân thương trong lòng người dân xứ Huế.

Với lựa chọn phương án phục hồi như vậy, các giải pháp can thiệp được sử dụng phải loại trừ những yếu tố ngoại lai đã xuất hiện trong những lần trùng tu trước đây (theo kết quả phân tích trong thuyết minh Dự án là từ năm 1963 đến 1994). Do đó, Phu Văn Lâu sau khi phục hồi sẽ có đầy đủ các yếu tố cấu thành của di tích tại thời điểm lịch sử năm 1922 thời Khải Định: Mái lợp ngói âm-dương, réo mái (mái cong) và hình thức mặt đứng kiến trúc tầng 2 hoàn mỹ (hình 8).

 

Minh họa công trình Phu Văn Lâu sau khi phục hồi

MỘT VÀI CHI TIẾT CẤU TẠO ĐIỂN HÌNH SẼ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH

SO VỚI HIỆN TRẠNG TRƯỚC KHI HẠ GIẢI

Nội dung

Thời Khải Định

Hiện trạng

trước khi hạ giải

Phương án

phục hồi

1.     Cột cái (4 cột)

Vật liệu gỗ

Bê tông cốt thép

Gỗ Kiền

2.     Cột quyết

Vật liệu gỗ

Bê tông cốt thép

Gỗ Kiền

3.     Kèo quyết (mái hạ)

Vật liệu gỗ

Bê tông cốt thép

Gỗ Kiền

4.     Xuyên đại tầng 1

Vật liệu gỗ

Bê tông cốt thép

Gỗ Kiền

5.     Chân táng cột cái

Đá Thanh

Bê tông

Đá Thanh

6.     Chân táng cột quyết

Đá Thanh

Bê tông

Đá Thanh

7.     Mái ngói

Ngói âm dương

Ngói ống

Ngói âm dương

8.     Các con giống bờ nóc, bờ quyết

Gắn đắp sành sứ

Gắn đắp sành sứ sơ sài, sai hình thức; con giống bờ nóc và bờ quyết khác chủng loại

Phục hồi gắn đắp sành sứ theo hình thức thời Khải Định

9.     Ô hộc bờ nóc, bờ quyết

Gắn đắp sành sứ

Vẽ màu

Gắn đắp sành sứ

10.           Độ réo mái

Mái được réo

Mái thẳng

Phục hồi réo mái

 

Phương án trùng tu phục hồi Phu Văn Lâu được xây dựng và vận hành căn cứ trên các quy định hiện hành của pháp luật về xây dựng, về đấu thầu và về di sản văn hóa hết sức chặt chẽ. Ngày 15/5/2015, dự án trùng tu di tích Phu Văn Lâu được chính thức khởi công sau khi hoàn thành đầy đủ các thủ tục theo quy định.

Quy trình tổ chức và quản lý chất lượng thi công tu bổ phục hồi di tích Phu Văn Lâu cũng được vận hành hết sức nghiêm túc. Đơn vị chủ đầu tư là Trung tâm BTDT Cố đô Huế giao cho Ban QLDA di tích Cố đô Huế trực tiếp quản lý dự án. Tổ giám sát thi công do chủ đầu tư thành lập bao gồm các cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ, có đầy đủ các chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát, quản lý dự án, giám sát thi công tu bổ di tích theo luật định. Đơn vị thiết kế là Ban Tư vấn di tích Huế. Đơn vị thi công là Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng-Bộ Xây dựng. Chủ đầu tư đã:

- Thành lập Ban Chỉ huy công trường, gồm các cán bộ có thâm niên trong công tác tu bổ, bảo tồn di tích Huế và có đầy đủ các chứng chỉ hành nghề theo Luật định;

- Lập bảng tiến độ thi công căn cứ theo thời gian được phê duyệt trong quyết định phê duyệt Dự án của UBND tỉnh;

- Lập Nhật ký thi công theo quy định của Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn có liên quan và điều 25 thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL.

2.3.Về quy trình quản lý chất lượng

Vật liệu đưa về công trường được kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào sử dụng. Tiêu chuẩn kiểm tra sử dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành có liên quan. Cụ thể việc kiểm tra chất lượng từng công việc được thực hiện theo trình tự như sau:

Giải pháp bao che:

-  Thi công hệ thống nhà bao che công trình và các nhà lán trại tạm để thi công và bảo vệ cấu kiện. Nhà bao che phải chống được mưa, nắng và đảm bảo chắc chắn trong quá trình thi công; xung quanh công trình có lưới chắn bụi và đảm bảo yêu cầu mỹ quan;

-  Làm hệ thống dàn giáo, sàn thao tác xung quanh công trình và phía trong công trình. Dàn giáo phải bảo đảm chắc chắn trong suốt quá trình thi công và có hệ thống cáp giằng chống bão;

Giải pháp hạ giải, tháo dỡ:

Yêu cầu chung: Công tác hạ giải chỉ được thực hiện khi đã có hệ thống dàn giáo, bao che công trình vững chắc; Việc tháo dỡ hoặc hạ giải phải bảo đảm tính ổn định phần còn lại của công trình; Cấu kiện trước khi hạ giải được phải đánh dấu kí hiệu và không làm biến dạng trong quá trình hạ giải, nhất là những con giống, họa tiết trang trí.

Hạ giải ngói lợp: tháo dỡ và phân loại từng chủng loại ngói, sắp xếp thành từng lô tái sử dụng và hư hại cần thay thế; ngói tận dụng được xếp loại và vệ sinh sạch để sử dụng lại;

Hạ giải bờ mái và các con giống: Nẹp bờ mái trước khi hạ giải, đánh dấu từng đoạn, sử dụng máy cắt, cắt rời từng đoạn. Khi hạ xuống xếp lại thành hình dạng theo vị trí; vẽ ghi chi tiết màu sắc, hình dáng hoa văn họa tiết, kích thước các bộ phận;

Hạ giải cấu kiện gỗ: Vẽ ghi hiện trạng trước khi hạ giải; đánh dấu cấu kiện hạ giải; hạ giải từng cấu kiện theo trình tự: lắp sau thì hạ trước; tuyệt đối giữ các chi tiết có hoa văn trang trí; vẽ ghi các cấu kiện sau khi hạ giải và chụp ảnh lưu hồ sơ v.v...; Các chi tiết được bảo quản theo chủng loại: cột, kèo, xuyên, trến, đinh rui, đinh bọ, các chi tiết kim loại, bức hoành phi v.v...

 

Giải pháp tu bổ, phục hồi:

             Phần móng: Được thực hiện sau khi cấu kiện được hạ giải. Phần gia cường thực hiện theo thiết kế. Phần căn chỉnh chân tán sử dụng các thiết vị trắc đạc hiện đại.

             Tu bổ, phục hồi bộ khung gỗ:  Sử dụng gỗ kiền (nhóm 2) để chế tác toàn bộ các cấu kiện phải thay thế; Với các cấu kiện phục hồi: chế tác theo nguyên mẫu; Với các cấu kiện tái sử dụng: vệ sinh bề mặt, lấy hết các dị vật và tiến hành gia cường theo thiết kế được duyệt; Lắp dựng cấu kiện;

             Phục hồi mái, các con giống và ô hộc trang trí hoa văn: Ngói được lựa chọn có màu sắc đồng đều, không cong vênh; tiến hành gầy mái và lắp dựng các con giống (đã được phục hồi theo thiết kế); lợp mái theo quy trình, phương thức và vật liệu truyền thống.

             Sơn thếp các cấu kiện gỗ: sử dụng sơn ta với các công đoạn chế tác truyền thống để hoàn thiện bề mặt các cấu kiện gỗ. Màu sắc theo gam màu sử dụng tại di tích Huế, trên cơ sở hồ sơ thiết kế được duyệt;

             Chống mối mọt cho công trình: Chống mối cho công trình được thực hiện làm 2 công đoạn: lập hàng rào chống mối nền và chống mối trực tiếp trên bề mặt cấu kiện gỗ trước khi sơn. Quy trình thực hiện căn cứ theo hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành;

             Các phần công việc khác (hệ thống điện chiếu sáng, thi công lát, gia cường móng v.v… ): thực hiện theo hồ sơ thiết kế trên cơ sở các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành có liên quan;

2.4. Về quy trình thi công

Quy trình thi công tu bổ di tích Phu Văn Lâu được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Cụ thể ở đây là:

-         Luật Di sản Văn hóa 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12;

-          Nghị định 70/2012/NĐ-CP, ngày 18/09/2012 của Chính phủ về quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh;

-         Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 28/12/2012, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.

Tại chương IV, thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL, có quy định chi tiết về thi công tu bổ di tích, từ chuẩn bị thi công (điều 24), thực hiện thi công (điều 25) tới nhật ký công trình và hồ sơ hoàn công (điều 26). Trong đó, điều 25 quy định rõ về quy trình thi công. Theo đó, việc thi công tu bổ di tích được tóm lược lại trong 9 ý chính, từ chuẩn bị công trường tới nghiệm thu bàn giao.

Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày quy trình thi công Phu Văn Lâu theo quy định tại điều 25 của thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL, có minh họa bằng hình ảnh. Tuy nhiên, vì hiện tại Phu Văn Lâu đang thi công dở dang, còn một số công việc như: lắp dựng bộ khung; lợp mái; gắn đắp bờ nóc, bờ quyết và các ô hộc trang trí; sơn son thếp bạc các chi tiết bộ khung và cấu kiện gỗ vẫn chưa được thực hiện nên ở các phần này, phần mô tả quy trình sẽ không  có hình ảnh minh họa hoặc sẽ được minh họa tạm bằng hình ảnh một vài công đoạn chế tác tương tự nhưng ở các công trình khác của di tích Huế.

Những thông tin, hình ảnh được đề cập trong bài viết đã cho thấy những giai đoạn biến đổi của Phu Văn Lâu trong từng giai đoạn lịch sử và hình ảnh mà Phu Văn Lâu thời Khải Định-Bảo Đại sẽ được tái hiện sau khi công tác thi công trùng tu được hoàn thành (theo quyết định phê duyệt là 720 ngày kể từ ngày khởi công, tức là ngày 5/5/2017).  Đồng thời, việc thi công tu bổ, phục hồi di tích Phu Văn Lâu vẫn đang được thực hiện đúng hồ sơ thiết kế được duyệt, trên cơ sở quy trình tu bổ, phục hồi di tích được quy định tại điều 25 của thông tư 18/TT-BVHTT&DL.

TS. Phan Thanh Hải - TS. Nguyễn Tiến Bình
Các tin khác:
Trang chủLiên hệ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.