Hình ảnh hoạt động
Ý NGHĨA CÁC HÌNH TƯỢNG KHẮC TRÊN CAO ĐỈNH Ở THẾ MIẾU
Cập nhật ngày: 20/09/2021 09:08:45
Cửu đỉnh được đặt ở trước Hiển Lâm Các theo một hàng ngang, đối diện với Thế Miếu, ứng với án thờ của các vua nhà Nguyễn trong Thế Miếu.
 

Cửu đỉnh Huế được đúc vào tháng 10 năm Minh Mạng thứ 16 [1835] và hoàn thành vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ 18 [1837]. “Ngày Quý Mão, đặt 9 cái đỉnh ở trước sân Thế Miếu. Trước đây đúc 9 cái đỉnh to (cao hơn 5 thước, đến hơn 6 thước, vòng lưng to 11 thước 6 tấc đến hơn 8 tấc, nặng 4.100 cân hay 4.200 cân có lẻ). Phàm các thứ chim cá, giống thú cây cỏ cùng đồ binh khí, xe, thuyền cho đến thiên văn địa lý trong nước, lớn nhỏ đều đủ, đều theo hình ấy mà đúc”[1].

Dưới triều Nguyễn, “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời tam đại[2] lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc 9 cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thật to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế Miếu:

-    Chính giữa: Cao đỉnh

-    Tả nhất: Nhân đỉnh

-    Hữu nhất: Chương đỉnh

-    Tả nhị: Anh đỉnh

-    Hữu nhị: Nghị đỉnh

-    Tả tam: Thuần đỉnh

-    Hữu tam: Tuyên đỉnh

-    Tả tứ: Dụ đỉnh

-    Hữu tứ: Huyền đỉnh”[3]

Cửu đỉnh được đặt ở trước Hiển Lâm Các theo một hàng ngang, đối diện với Thế Miếu, ứng với án thờ của các vua nhà Nguyễn trong Thế Miếu. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn, lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh.

Nhìn chung, tất cả chín chiếc đỉnh đều có hình dáng chung giống nhau: bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới bầu có ba chân. Ở phần cổ đỉnh, bên phải ghi năm đúc đều là “Minh Mạng thập lục niên Ất Mùi - 明命十六年乙未 tức là năm 1835. Tuy nhiên, mỗi đỉnh cũng có nét riêng, thể hiện ở kiểu dáng quai, vành miệng, vai, chân và đáy.

Đặc biệt, mỗi đỉnh được chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí… Các bức chạm này tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.

 

 

Lần này, chúng tôi xin mô tả hình ảnh và ý nghĩa các hình tượng được khắc trên Cao đỉnh ở Thế Miếu:

 

 

Cao đỉnh nặng 4,307 cân, bề cao 5 thước 5 phân, đường kính 3 thước 3 tấc 4 phân[4], được đặt ở vị trí trung tâm, ứng với khám thờ vua Gia Long trong Thế Miếu ở Hoàng thành Huế. So với 8 đỉnh còn lại, Cao đỉnh được đặt nhích về phía trước 3 mét với hàm ý tôn vinh vị vua sáng lập triều đại.

Trên thân Cao đỉnh được khắc các hình tượng như: Mặt Trời, biển Đông, núi Thiên Tôn, sông Ngưu Chử, sông Vĩnh Tế, chim trĩ, con hổ, con ba ba, con rồng, hoa tử vi, cây mít, cây lúa tẻ, cây trầm hương, gỗ thiết (gỗ lim), cây hành, thuyền nhiều dây (đa tác thuyền), súng lớn (đại bác).

Chính giữa của Cao đỉnh là chữ “Cao đỉnh 鼎”, chính là thụy hiệu của vua Gia Long, vị vua sáng lập nên vương triều nhà Nguyễn

 

Hàng trên, phía trái của chữ Cao đỉnh là hình tượng “Long 龍”, nghĩa là con rồng, biểu tượng cho quyền lực của hoàng đế, cai trị cả thiên hạ. Rồng thời Nguyễn là biểu tượng cho một đế quốc phương Nam với vẻ đẹp uy quyền. Hình ảnh rồng thời Nguyễn còn lại tương đối nhiều ở các di tích chùa, đình từ Huế ra vùng đồng bằng sông Hồng.

 

 

Kế đến là hình tượng “Ba la mật 波羅密”, nghĩa là cây mít, loài cây ăn quả quen thuộc ở các làng quê Việt Nam, được dùng làm thức ăn hàng ngày của người dân. Cây mít thuộc loại cây gỗ nhỡ cao từ 8 đến 15m. Cây mít ra quả sau ba năm tuổi và quả của nó là loại quả phức, ăn được. Mít được coi là loại cây ăn trái với quả chín lớn nhất trong các loài thảo mộc. Hình ảnh cây mít nói lên sự đoàn kết, sum vầy, viên mãn. Hơn thế nữa, nó còn thể hiện cho sự kiên cường, trí tuệ. Ngoài ra, cây mít dễ sống. Dù đất có cằn cỗi đến mấy, cây mít vẫn luôn xanh tươi và đâm chồi nảy lộc quanh năm.
 
Hình tượng “Canh 秔” là cây lúa tẻ, nông sản gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước của người Việt từ xa xưa. Cây lúa tẻ thuộc dạng thân thảo rỗng, có thời gian sinh trưởng tùy theo giống ngắn ngày hoặc dài ngày. Khi lúa chín, lá lúa từ màu xanh chuyển sang màu vàng. Hoa lúa nhỏ, màu trắng sữa và tự thụ phấn. Hạt lúa (thóc) thuôn dài, có vỏ trấu bên ngoài và nhân (gạo) màu trắng đục. Cây lúa tẻ là biểu tượng cho sự no ấm, đầy đủ. Không chỉ thế, nó còn là nguyên liệu để làm ra các món ăn ngon, các món ăn để cúng lễ tổ tiên vào dịp lễ Tết như bánh chưng, xôi, bánh dầy.
 

Hình tượng “Thông 葱” nghĩa là cây hành, loại rau gia vị quen thuộc của người Việt. Cây hành là loại thân thảo, sống lâu năm, có mùi đặc biệt. Một cây có 5-6 lá, lá hình trụ rỗng, dài 30-50cm, phía gốc lá phình to, trên đầu thuôn nhọn. Hoa tự mọc trên ống hình trụ, rỗng. Hoa tự dạng hình xim, có ngấn thành hình tán giả trông tựa hình cầu. Quả nang, tròn. Hành được trồng khắp nơi, chủ yếu dùng làm gia vị. Ngoài ra hành còn là một vị thuốc nam được dùng để chữa nhiều loại bệnh: trị ho, trừ đờm, lợi tiểu, sát trùng...

“Tử vi hoa 紫薇花” là loài hoa thuộc họ bằng lăng, loài cây bụi, thân gỗ nhỏ, nhẵn. Lá đơn hình bầu dục, mọc đối, dính sát thân cành. Hoa có 6 cánh, hương thơm dịu, gồm các màu hồng, tím, đỏ, trắng, mọc thành từng chùm ở đầu cành, cánh hoa mỏng nhàu, mép lượn sóng. Chỉ nhụy dài cong, điểm phấn vàng rực rỡ. Đây là loài hoa đem đến sự thịnh vượng, tốt lành.
 
“Trĩ 雉” là chim trĩ, loài chim rừng có họ với gà, sở hữu bộ lông màu sắc rực rỡ. Chim Trĩ là loài vật có đuôi dài, không xòe ra và nhiều màu sắc như đuôi chim công nhưng có một số con có màu sắc rất đẹp và nổi bật. Nhìn vào nó người ta nghĩ ngay đến sự cao quý, trang nhã. Trĩ là 1 trong 12 huy hiệu của các bậc Đế vương, biểu tượng của Hoàng hậu.
 

Hàng giữa, bên trái chữ “Cao đỉnh” là “Đông Hải 東海”, nghĩa là Biển Đông, vùng biển gắn với chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam.

Biển Đông đóng vai trò quan trọng, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong kiểm soát các tuyến đường biển qua lại biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam. Nước ta giáp với Biển Đông ở 3 phía; đông, nam, tây nam. Các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam trải dọc theo bờ biển dài khoảng 3.260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa biển Đông và hàng nghìn đảo lớn nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa. Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Đây là nơi cung cấp nguồn tài nguyên quý giá, là cửa ngõ quan hệ trực tiếp giữa các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa. Hình ảnh Biển Đông được khắc trên Cao đỉnh đã khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là chủ quyền của Việt Nam.

 

“Vĩnh Tế hà 永濟河” là kênh Vĩnh Tế, con kênh đào vĩ đại ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long được vua Gia Long cho khởi công vào năm 1819. Kênh Vĩnh Tế dài gần 100km nối liền hai thành phố du lịch nổi tiếng của miền Tây là thành phố Châu Đốc - tỉnh An Giang và thành phố Hà Tiên - tỉnh Kiên Giang.

Nằm ở vùng biên giới phía Tây Nam Việt Nam, con kênh này là công trình có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực kinh tế quốc phòng, gắn liền với tên tuổi của Thoại Ngọc Hầu - một danh tướng thời nhà Nguyễn.

 
“Nhật 日” nghĩa là mặt trời. Mặt trời là đại diện của sự sống, khả năng sinh sản và tất cả mọi thứ liên quan đến cuộc sống con người. Ngoài ra, mặt trời tượng trưng cho năng lượng, sức mạnh và sự tái sinh. Người phương Đông xem mặt trời là người giám hộ trong ngày để che chở và bảo vệ cho cuộc sống của họ.
 

“Ngưu Chữ giang牛渚 江” là kênh Bến Nghé, một huyết mạch giao thông đường thủy ở Sài Gòn - Gia Định. Con sông ngày được sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại rằng: “Sông Ngưu Chữ (Bến Nghé) ở cách huyện Bình Dương 5 dặm về phía bắc, có tên nữa là sông Tân Bình, phát nguyên từ thác lớn Bưng Đàm, chảy về phía đông qua thủ sở Tầm Vông, đến sông Băng Bọt qua sông Bình Đồng, đến bến đò trước tỉnh thành (Gia Định), rồi chuyển về phía bắc, xuống phía đông vào ngã ba Nhà Bè, hợp với sông Phúc Bình, lại chảy chừng 142 dặm, đổ ra biển Cần Giờ. Hai bên sông nhiều chi lưu, phía tây nam là địa giới tỉnh Gia Định, phía đông bắc là địa giới tỉnh Biên Hòa. Lòng sông rộng và sâu, thuyền buôn nước ta cùng các nước liên tiếp nhau cột buồm lươn lướt, là một chỗ đại đô hội.

Tương truyền sông này trước nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau, rống lên như trâu rống cho nên gọi tên như thế. Đầu năm Mậu Thân, đầu đời Trung hưng, thu phục Gia Định, nước sông trong; năm Gia Long thứ 16 nước sông lại trong; năm Minh Mạng thứ 2 và thứ 6 nước sông lại hai lần trong, người ta cho như thế là điềm thái bình. Năm thứ 17 đúc Cửu đỉnh, đúc tượng hình sông vào Cao đỉnh. Năm Tự Đức thứ 3, ghi vào điển thờ”[5].

 

“Thiên Tôn Sơn 天尊山” là núi Thiên Tôn được vua Gia Long cho xây dựng năm 1803, tại thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, nơi phát tích của 9 chúa, 13 vua triều Nguyễn. Ngay nay là di tích lăng miếu Triệu Tường. Ở đây có khu di tích Gia Miêu gồm: vùng núi lăng Triệu Tường là nơi an táng ông Tổ nhà Nguyễn là Nguyễn Kim, Miếu Triệu Tường thờ Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng (con Nguyễn Kim) và Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu (thân sinh Nguyễn Kim) và Đình làng Gia Miêu - thờ thành hoàng Nguyễn Công Duẩn.

Đây là công trình kiến trúc tưởng niệm. Miếu thờ của vương triều Nguyễn, được xây dựng với quy mô lớn, có giá trị đặc biệt về kiến trúc và nghệ thuật trang trí điêu khắc. Đây được coi là “Kinh thành Huế thu nhỏ”.

 
 

Hàng dưới, bên trái chữ “Cao đỉnh” là “Thiết mộc 鐵木”, tức cây gỗ lim, đây là loài gỗ quý, loại cây cho gỗ rất cứng chắc, nặng, bền, không bị mối mọt, thường dùng trong kiến trúc cổ (như làm cột, kèo, xà và các bộ phận cấu trúc trong các công trình xây cất theo kiến trúc như đình, chùa, cung điện), ngoài ra cũng được dùng để xây dựng công trình thuỷ lợi, cầu cống, đóng tàu thuyền, làm ván sàn, tà vẹt, đóng đồ trang trí trong gia đình.

Gỗ lim không bị cong vênh, nứt nẻ, biến dạng do thời tiết nên rất được ưa chuộng. Đặc biệt gỗ lim có những đường vân xoắn rất đẹp mắt. Gỗ lim không chịu được ẩm nên khi sử dụng gỗ trong môi trường ẩm người ta phải xử lý chống ẩm. Ngoài ra gỗ lim còn rất nặng vì thế gây nên nhiều khó khăn trong quá trình khai thác, vận chuyển.

 
“Hổ 虎” là con hổ, loài vật biểu tượng cho sức mạnh, phân bố trong hầu khắp các khu rừng rậm ở Việt Nam xưa. Hình tượng con hổ đã xuất hiện từ lâu đời và gắn bó với lịch sử của loài người. Trong nhiều nền văn hóa khác nhau thế giới, hình ảnh con hổ gợi lên những liên tưởng về sức mạnh, sự thanh thế, oai linh, vẽ đẹp rực rỡ nhưng đầy bí hiểm, là linh vật trong 12 con giáp, tượng trưng cho sức mạnh và sự uy linh, trấn giữ cửa ải ngũ phương, chống lại tà ma. Dưới triều Nguyễn, hổ cùng với rồng được coi là biểu trưng cho vương quyền, trong quân sự, võ học và cho những thành đạt trong khoa cử, chính vì vậy mà hình ảnh con hổ xuất hiện khá phổ biến trong cung cấm, doanh trại và trong trường thi.
 

“Đa tác thuyền 多索船” là tên nhà Nguyễn gọi thuyền buồm, loại thuyền đi biển đường dài có xuất xứ phương Tây.

Đa tác thuyền là thuyền có rất nhiều dây, tên gọi của loại thuyền đóng theo kiểu tây thời Nguyễn. Trong sách Đại Nam thực lục cho biết: Đa tác thuyền còn được gọi là tàu bọc đồng, tàu có số lượng thủy thủ ước chừng 300 người, tổng số quân phục vụ trên toàn bộ các tàu loại này được ghi lại là 1200 người. Số lượng pháo được trang bị mỗi chiếc không có ghi chép xác thực, ước đoán chừng 40 khẩu. 

 

“Đại pháo大礮” là súng đại bác, hỏa khí chủ lực trong quân đội nhà Nguyễn. Là một loại pháo sử dụng thuốc súng hoặc thường là các loại nhiên liệu có nguồn gốc chất nổ khác để đẩy một viên đạn đi xa. Các loại súng thần công khác nhau về cỡ nòng, tầm bắn, tính cơ động, tốc độ bắn, góc bắn và hỏa lực; các hình dạng khác nhau của súng thần công khi kết hợp và cân bằng những thuộc tính ở các mức độ khác nhau, tất cả các điều trên phụ thuộc vào mục đích sử dụng của súng thần công trên chiến trường.

 

“Trầm hương 沈香” là cây trầm hương, một loài cây cho gỗ có mùi thơm rất quý hiếm. Đây là một thứ gỗ quý, rất thơm và nặng, bỏ xuống nước thì chìm, chứ không nổi như các loài gỗ khác. Trầm hương thường cao từ 15-30m, có khi cao đến 40m với đường kính trên 60cm. Vỏ cây nhẵn có màu xám, có vết nhăn dọc theo thân cây, thịt vỏ màu trắng, có xơ hay tơ mịn dày, cành non phủ lông mềm màu vàng xám. Lá cây mỏng, hình bầu dục hoặc lưỡi mác, mọc đối. Mặt trên của lá có màu xanh bóng, mặt dưới có xanh nhạt hơn và có lông mịn, lá trầm hương có gân hình lông chim nổi rõ ở mặt dưới, hợp lại ở mép, cuống lá dài 2 - 5mm.

Sản phẩm từ Trầm hương có rất nhiều công dụng đến sức khỏe như an thần, xua tan căng thẳng, mệt mỏi, áp lực trong cuộc sống của con người. Theo nghiên cứu trong Trầm hương có chứa những chất có tác dụng cực kỳ tốt cho hệ tiêu hóa. Các phương thuốc đông y thường cho Trầm hương là một thần dược trong việc trị chướng bụng, tiêu chảy, đau thắt,… ngoài ra có tác dụng kháng viêm và chống oxy hóa tốt, có tác dụng thanh lọc không khí, loại bỏ khí độc, ẩm mốc làm cho môi trường trong lành để bảo vệ sức khỏe. Bên cạnh đó, Trầm hương còn có ý nghĩa phong thủy tùy vào hình dáng vật phẩm khác nhau.

 
“Miết 鱉” là con ba ba, một thủy sản có giá trị được khai thác tại nhiều sông hồ của Việt Nam. Ba ba là một trong những con vật gần với rùa, tượng trưng cho thần bảo vệ của cải, mang lại sự bình yên, ấm no cho vương triều.
 

Các hình khắc trên Cửu đỉnh nhà Nguyễn nói chung và Cao đỉnh nói riêng được coi là một cuộc triển lãm những tác phẩm mỹ thuật tuyệt vời, mang tính biểu tượng cho sự giàu đẹp, hưng thịnh của triều đại nhà Nguyễn

                                                                                                           

     (Còn tiếp)

Xem tiếp các ý nghĩa các hình tượng trên Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh

 


[1] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 5, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2004, tr.21

[2] Tam đại : Hạ, Thương, Chu, ba triều đại xưa ở Trung Quốc

[3] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 4, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2004, tr.794-795

[4] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, 2006 tr.34

[5] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, quyển 31 - tỉnh Gia Định, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, 2006.

 
Lê Thị Bích Thi
Các tin khác:
Trang chủLiên hệCác nhà tài trợ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.