Hình ảnh hoạt động
Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch về chùa Thiền Lâm (Phần 1)
Cập nhật ngày: 03/01/2018 12:00:00
Tiếp theo một số bài viết trao đổi, phản biện về vị trí của phủ Dương Xuân và cung điện/lăng mộ Đan Dương của các tác giả Nguyễn Anh Huy, Trần Đại Vinh, chúng tôi sẽ cho đăng tải bài trao đổi của Tiến sỹ Võ Vinh Quang về công trình Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Đây là một bài khảo cứu công phu và khá dài nên chúng tôi tạm chia thành 4 phần.
Trên thực tế, phủ Dương Xuân hay cung điện Phú Xuân thời Tây Sơn đều kế thừa của thời kỳ chúa Nguyễn, vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu, xác định vị trí, quy mô kiến trúc của các công trình thời kỳ này cũng chính là sự đóng góp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về thời chúa Nguyễn, một thời kỳ lịch sử quan trọng nhưng vẫn còn quá nhiều khoảng trống trong hiểu biết của chúng ta.
 

Vào khoảng cuối thu năm 2017, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (NNC NĐX) đã cho ra đời công trình Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong [viết tắt là sách Thiền Lâm], do Nhà xuất bản (Nxb.) Thuận Hóa ấn hành. Sách gồm 156 trang, in trên giấy bóng đẹp với nhiều hình ảnh màu khá sống động. Nội dung chủ yếu của cuốn sách này tập trung khai thác về giá trị lịch sử của chùa Thiền Lâm trong mối tương quan với triều đại Tây Sơn, nhất là sự kết nối với lăng mộ vua Quang Trung.

Cuốn sách này cùng với những công trình nghiên cứu khác như Đi tìm lăng mộ vua Quang Trung (Viện Sử học Việt Nam, 1992), Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung (Nxb. Thuận Hóa, bản in đầu 2007, tái bản 2015), Bắc cung  Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế (Nxb. Thuận Hóa, 2014) và Phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn – tiền thân của cung điện Đan Dương, Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung (Nxb. Văn hóa Văn nghệ, 2017) của ông NĐX là các công trình chủ yếu, tương hỗ lẫn nhau (và có nhiều phần giống nhau) nhằm xác quyết về vấn đề lăng mộ vua Quang Trungcung điện Đan Dương (?).

Các công trình ấy là kết quả của NNC NĐX trong nhiều năm tìm hiểu về lăng mộ vua Quang Trung, vị hoàng đế tiêu biểu của triều đại Tây Sơn. Bởi thế, chúng tôi rất trân trọng công sức ấy.

Tuy nhiên, sau một thời gian tìm hiểu về công trình nghiên cứu này, qua đối chiếu với các tư liệu hiện có liên quan đến chùa Thiền Lâm, chúng tôi nhận thấy sách Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong có rất nhiều điểm bất hợp lý, thậm chí có những sai sót mang tính hệ thống, làm ảnh hưởng nặng nề đến nhận định của người đời sau đối với ngôi chùa có bề dày lịch sử này. Do vậy, bài viết dưới đây xin được có đôi lời góp ý với NNC NĐX về những thiếu sót trên.

1/ Những suy đoán chủ quan và gán ghép để cố tình xúc phạm Hòa thượng Khắc Huyền – tổ khai sơn Thiền Lâm viện.

Trong sách Thiền Lâm, tác giả dường như không hề nghiên cứu dựa trên các cứ liệu thực tế và tư liệu lịch sử. Để phù hợp với luận cứ cá nhân, ông cố tình “uốn nắn” tư liệu và dữ liệu thực địa theo hướng có lợi nhất cho cá nhân.

Điều đáng bàn đầu tiên ở đây chính là sự suy luận chủ quan dẫn tới việc phủ nhận sạch trơn vị tổ sư khai sơn chùa Thiền Lâm: Khắc Huyền lão tổ.

Cụ thể, tại công trình Thiền Lâm, NNC NĐX đã nhiều lần nhắc tới tháp mộ và linh vị hòa thượng Khắc Huyền để phủ nhận tên tuổi của vị tổ sư khai sơn Thiền Lâm viện, trong đó tập trung tại Chương năm: Đâu là lịch sử đích thực của chùa Thiền Lâm (trang 42-53) của phần chính[1] và mục 9. Nghiên cứu và phản biện bài viết Tổ Khắc Huyền của HT Thích Hải Ấn và NNC Hà Xuân LiêmChương thứ hai: Tư Liệu[2].

Ông cho rằng: “Bia tháp lâu nay tưởng là của Hòa thượng Khắc Huyền, theo tôi là bia tháp của một vị Hòa thượng nào đó viên tịch vào năm 1706, bị mài nhẵn và khắc lại tên ‘Hòa thượng Khắc Huyềntôi không tin tháp mộ lâu nay tưởng là của Hòa thượng Khắc Huyền là của Ngài Hòa thượng thật nào đó[3].

Việc xác định không có Khắc Huyền lão tổ, và cho rằng rằng đây là tháp mộ do người sau ngụy tạo với mục đích “đánh lạc hướng” dư luận trong mấy trăm năm qua… được tác giả dựng nên nhằm đưa đến kết luận rằng Triều Nguyễn đã cố tình xóa sổ các dấu vết toàn khu vực liên quan đến chùa Thiền Lâm và phủ Dương Xuân.

Để góp phần chứng minh cho nhận định của mình, NNC NĐX tiếp tục đưa ra khá nhiều ý kiến, suy luận đầy chủ quan tư biện, dựa vào những suy đoán cá nhân. Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến 2 vấn đề trọng yếu nhất:

(1) Bia tháp hòa thượng Khắc Huyền không hề bị mài nhẵn và khắc lại.

(2) Ông NĐX hiểu sai về khái niệm “viện” 院và “tự” 寺, sai lầm này chính là yếu tố căn cốt để dẫn tới nhiều sai sót, gán ghép trong nhiều nhận định tiếp theo.

 

1.1 Bia tháp Hòa thượng Khắc Huyền không hề bị mài nhẵn và khắc lại

Trong Chương nămmục 9 phần Tư liệu (đã đề cập ở trên), ông NĐX không rõ căn cứ vào cứ liệu thực tế nào để cho rằng:

Nội dung khắc ở lòng bia ‘Sắc tứ Động Thượng chính tông khai sơn Thiền Lâm viện Khắc Huyền lão tổ chi tháp”. Nội dung này khắc lại trên mặt bia đã bị mài nhẵn nội dung cũ nên không đáng tin cậy và không thấy các tác giả quan tâm đến hiện tượng khắc lại đó[4].

Để kiểm chứng nhận định này, chúng tôi đã trực tiếp khảo sát bia đá trên tháp mộ hòa thượng Khắc Huyền[5]. Qua thực địa đối chiếu, chúng tôi thấy rõ đây là ngôi tháp có từ xưa, tháp 3 tầng được bao bọc bằng một vòng tường thành xung quanh. Ngôi tháp xoay về hướng Nam. Nằm bên phải, gắn vào tường của tháp mộ còn bia đá Thổ thần土神 (cũng gọi là bia Hậu thổ 后土, Hậu thổ nương nương后土娘娘, Khai hoàng hậu thổ nguyên quân 開皇后土元君, tức là thổ địa thần土地神) bằng đá tím (đá gan gà), loại vật liệu phổ biến thời Chúa Nguyễn.

Ảnh 1: Toàn cảnh tháp tổ Khắc Huyền (ảnh: VVQ)

 

Ảnh 2: Lòng bia tháp mộ Hòa thượng Khắc Huyền (ảnh: VVQ)

 

Ảnh 3: Bia đá “Thổ thần” bên phải tường thành tháp mộ (ảnh: VVQ)

Bia tháp mộ được chế tác bằng đá thô, ráp (không mịn), các dòng chữ Hán được khắc với nét khá sâu, lòng bia có dòng chữ: “Sắc tứ Động thượng chánh tông khai sơn Thiền Lâm viện Khắc Huyền lão tổ hòa thượng chi tháp” 敕賜洞上正宗開山禪林院克玄老祖和尚之塔. Bên trái bia ghi phần niên hiệu lập bia là: “Chính Hòa nhị thập thất niên tứ nguyệt cát đán lập”正和二十七年四月吉旦立 (ngày tốt tháng 4 niên hiệu Chính Hòa thứ 27 [1706] lập bia).

Quan sát tổng thể, chúng tôi không thấy dấu hiệu nào của việc mài chữ và khắc lại như nhận định của NNC NĐX[6]. Các dòng ghi năm – tháng - ngày trên niên hiệu ở bia đá viết bằng chữ đơn (nhị thập thất 二十七 [niên], tứ 四 [nguyệt]) chứ không dùng chữ kép theo quy định của triều Nguyễn từ niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822)[7] và chữ “Tông” 宗 (trong Động thượng chánh tông 洞上正宗) không hề có dấu hiệu kiêng húy, tức bia đá này đã khắc trước triều Thiệu Trị (Hiến tổ Chương Hoàng đế, vì tên húy của ngài là Miên Tông 綿宗).

Ở đây, chúng tôi xin đề cập thêm đối với cách nhìn nhận sai lệch, thiếu kiến thức và suy luận chủ quan của ông NĐX khi phê phán nhận định “Tổ Khắc Huyền cũng như tổ Giác Phong đều là những thiền sư trong phái Tào Động” của các tác giả sách Lịch sử Phật giáo xứ Huế là sai, nhằm mục đích phủ nhận sự hiện diện của tổ sư Khắc Huyền. NNC NĐX phê bình rằng: “Không rõ căn cứ vào tài liệu nào mà có sự khẳng định này. Theo Hải ngoại kỷ sự thì đến năm 1695, Hòa thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán qua Thuận Hóa thì dòng tu Tào Động mới chính thức phổ biến ở xứ Đàng Trong. Trước đó, Quốc sư Quả Hoằng dù theo dòng tu Tào Động nhưng chưa truyền cho ai[8]. Thực tế, trên văn bia tháp tổ sư Khắc Huyền đã viết rõ: “Sắc tứ Động thượng chánh tông khai sơn Thiền Lâm viện Khắc Huyền lão tổ hòa thượng chi tháp” 敕賜洞上正宗開山禪林院克玄老祖和尚之塔.

Động Thượng chánh tông 洞上正宗 là cách gọi phổ biến của Thiền phái Tào Động (曹洞宗 Tào Động tông), cùng với Lâm Tế chánh tông 臨濟正宗là hai dòng thiền của các tổ sư Trung Hoa phổ biến ở Đàng Trong và song song tồn tại từ thế kỷ XVII ở Thuận Hóa.

Khái niệm này đâu hề xa lạ, mà ngược lại khá phổ biến trong các thư tịch, sử liệu, bia ký, mộc bản đang hiện hữu. Chẳng hạn, ngay trong dòng đầu tiên ở văn bia Ngự kiến Thiên Mụ tự, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đã ghi rõ “Quốc chúa Nguyễn Phú Chu, tự Động Thượng chánh tông tam thập thế…” 國主阮福週嗣洞上正宗三十世…”  (xem ảnh 4), hoặc trong ván khắc (mộc bản) Kinh Kim Cang quý giá khắc vào năm Nhâm Thân, niên hiệu Khang Hy thứ 31 (1692) do Hòa thượng Thạch Liêm đứng tên khắc bản (hiện tồn ở kho mộc bản chùa Từ Đàm) ghi rất rõ: “Tự Động Thượng chánh tông nhị thập cửu thế Thạch Liêm Sán Đầu lễ quán tưởng kính thư” 嗣洞上正宗二十九世石濂汕頭禮觀想敬書 (xem ảnh 5). Những kiến thức này thuộc về tri thức nền tảng cơ bản của người học Phật, của Phật tử và những người quan tâm nghiên cứu về Phật giáo.

Ảnh 4: Ngự kiến Thiên Mụ tự (hiện đặt tại chùa Thiên Mụ)

 

Ảnh 5: mộc bản Kim Cang kinh quý hiếm (do Hòa thượng Thạch Liêm cho khắc bản vào năm 1692, hiện đặt tại chùa Từ Đàm)

 

Qua đây, chúng tôi nghĩ rằng NNC NĐX không phải không hề biết tri thức bình thường này, mà thực tế tác giả sách Thiền Lâm cố tình giả vờ không biết, để sử dụng sự suy đoán của mình theo hướng có lợi cho giả thiết ông đã đặt ra.

Một vấn đề nữa, như mọi người đều biết, việc Đàng Trong không theo kịp niên hiệu của vua Lê ở Đàng Ngoài là điều rất phổ biến và là một dấu hiệu văn bản học “đặc trưng” để nhận biết, phân biệt về đặc điểm tư liệu Đàng Trong so với Đàng Ngoài, nên thiết nghĩ chúng tôi không cần chứng minh thêm về niên hiệu ở trên bia.

Bên cạnh đó, như đã nói, bia Thổ thần 土神 bằng đá tím hiện hữu ở tường bên phải khuôn viên tháp tổ Khắc Huyền cũng góp phần chứng tỏ nhân vật được chôn cất tại ngôi tháp này rất quan trọng, có vị thế không nhỏ đối với Dòng tộc, Chùa chiền, hệ phái hoặc lịch sử văn hóa nước nhà.

Bởi lẽ, ngoại trừ các ngôi mộ của người Hoa kiều ở Huế, các ngôi tháp, mộ có sự hiện diện của bia đá thổ thần土神 (vị thần cai quản toàn khuôn viên khu mộ) còn lại hiện nay đa số có niên đại từ thời các chúa Nguyễn cho đến giai đoạn đầu triều Nguyễn, và hiện còn khá ít.

Chẳng hạn, bia thổ thần còn hiện hữu tại Tháp tổ Nguyên Thiều, Tháp tổ Liễu Quán, Tháp tổ Đạo Tâm Trung Hậu (Lâm Tế đời thứ 38, người có công đức trùng kiến chùa Thiền Tông sau khi bị suy đồi ở thời Tây Sơn), mộ ngài Thái giám Mai Văn Hoan (pháp danh Tế Ý – đệ tử tổ Liễu Quán, người hộ trì rất mạnh cho Phật giáo Đàng Trong trong thời quốc chúa Nguyễn Phúc Khoát) ở gần tháp tổ Liễu Quán, tại lăng Thiên Thọ (lăng của Thế tổ Cao Hoàng đế)…

Như vậy, các lăng mộ, tháp mộ có sự xuất hiện của bia đá Thổ thần 土神 (được người đời tôn xưng là Chính thần正神 hay Phúc Đức chính thần 福德正神) hiện tồn ở Huế phải là các ngôi lăng mộ có vị thế quan trọng đối với vương triều Nhà Nguyễn hoặc với tiến trình lịch sử xã hội của vùng đất này.

Riêng về các tháp mộ Phật giáo Huế, sự hiện diện của bia đá Hậu thổ / Thổ thần… này chứng tỏ đây là ngôi tháp mộ khá quan trọng đối với lịch sử các ngôi chùa, có dấu ấn không nhỏ đối với lịch sử Phật giáo Huế.

Từ đó theo chúng tôi, ngôi tháp mộ của Khắc Huyền Lão tổ nói trên cùng bia đá thổ thần là những chứng cứ đủ để khẳng định chủ nhân của ngôi tháp Khắc Huyền Lão tổ là một nhân vật quan trọng đối với Phật giáo Huế, là vị tổ khai sơn ngôi Thiền Lâm viện (tiền thân của Thiền Lâm tự) – một trong những địa điểm giảng dạy và giáo hóa, truyền bá đạo Phật dưới thời các Chúa Nguyễn.

Ảnh 6: Bia đá Chính thần, Thổ địa trên tháp tổ Nguyên Thiều (ảnh: VVQ)

 

Ảnh 7: Bia đá Khai hoàng hậu thổ nguyên quân ở tháp tổ Liễu Quán (ảnh: VVQ)

 

Ảnh 8: Bia Hậu thổ tôn thần ở tháp tổ Đạo Tâm Trung Hậu (ảnh: VVQ)

 

Ảnh 9: Bia đá Hậu thổ chi thần ở lăng Thiên Thọ (ảnh: VVQ)

 

Ảnh 10: bia đá Thổ thần ở ngôi mộ Thái giám Mai Văn Hoan (ảnh: VVQ)

(còn tiếp)...


[1] Nguyễn Đắc Xuân (2017), Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.42-53

[2] Nguyễn Đắc Xuân (2017), Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Sđd, tr.101-106

[3] Nguyễn Đắc Xuân (2017), Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Sđd, tr.49

[4] Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm- Ngôi chùa lịch sử, sđd, tr.103

[5] Hiện tháp mộ nằm ở phía trong khuôn viên số nhà 145 Điện Biên Phủ, nằm sát ngõ 145 Điện Biên Phủ, phường Trường An, Thành phố Huế, hướng đi vào chùa Thiền Lâm 2

[6] Nếu bia đá bị mài chữ và khắc đè lên thì luôn còn dấu hiệu của việc mài, đục. Đồng thời, khi khắc lại thì chữ Hán khó lòng cân chỉnh, đẹp đẽ và chữ khắc sâu như bia gốc

[7] Theo Đại Nam thực lục chính biên, quyển XVIII: Thực lục về Thánh Tổ Nhân Hoàng đế thì vào năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822), Thánh tổ Nhân Hoàng đế đặt ra quy định về sử dụng chữ kép thay chữ đơn trên giấy tờ ghi năm tháng ngày ở niên hiệu: “Vua thấy từ trước đến nay, các sắc chương sớ văn thư các nha, chữ năm tháng ngày ở chỗ niên hiệu đều dùng chữ đơn, sắc từ nay phải dùng chữ kép (như chữ nhất  phải viết 壹, chữ nhị phải viết) để phòng sự thay đổi” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục [tập 2] (bản dịch Viện Sử học, tái bản lần thứ nhất), Nxb. Giáo Dục, HN, 2007, Tr.245. Từ đây về sau, việc dùng chữ kép thay cho chữ đơn trong việc ghi năm tháng ngày ở dòng niên hiệu đã được phổ biến đến toàn xã hội, chứ không chỉ áp dụng trong các đơn từ hành chính. (xin xem: Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 2 (bản dịch Viện Sử học), Nxb Giáo Dục, HN, tr.245) 

[8] Nguyễn Đắc Xuân, Thiền lâm – ngôi chùa lịch sử, sđd, tr.102

 

 

Tài liệu tham khảo chính:

1/ Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục (Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích), Nxb Văn hóa Thông tin, HN

2/ L.Cadière (1928), “Tombeaux Annamites dans les environs de Hué” (Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế)”, Bullentin des Amis du Vieux Hué (BAVH) No.1, Janv-  Mars.

3/ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (bản Hán văn) Q.1, ký hiệu: R.779, Thư viện Quốc gia Việt Nam lưu trữ, link: http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/168/

4/ Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí tập 1 (bản dịch Viện Sử học, tái bản lần thứ hai), Nxb Thuận Hóa, Huế

5/ Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 2 (bản dịch Viện Sử học), Nxb Giáo Dục, HN

6/ Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 7 (bản dịch viện Sử học), Nxb. Giáo Dục, HN

7/ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (bản Hán văn) Q.10-12, ký hiệu: R.777, Thư viện Quốc giá Việt Nam lưu trữ, link: http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/182/

8/. Thích Đại Sán釋大汕, Hải ngoại kỷ sự 海外紀事 , 北京大學圖書館 (link: https://archive.org/details/02087136.cn; https://archive.org/details/02087137.cn  ).

9/ Sơn bi (thác bản), ký hiệu: N020966, Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ

10/ Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự- sử liệu nước Đại Việt thế kỷ XVII, viện Đại học Huế - Ủy ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam dịch và xuất bản

11/ Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh

12/ Nguyễn Đắc Xuân (2014), Bắc cung  Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế

13/ Nguyễn Đắc Xuân (2007), Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, Nxb. Thuận Hóa, Huế

14/ Nguyễn Đắc Xuân (2015), Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung (tái bản lần thứ 1), Nxb Thuận Hóa, Huế

15/ Nguyễn Đắc Xuân (2017), Phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn – tiền thân của cung điện Đan Dương, Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, TP HCM

16/ Nguyễn Đắc Xuân (2017), Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, Huế

17/ http://anphat.org/dictionary/detail/tu-dien-phat-quang/2/all/47156/noi-vien/193

18/ Tư liệu địa điền bạ và bản đồ ấp Bình An (niên hiệu Thành Thái thứ 19 [1907]), Tư liệu do ông Võ Văn Sơn ở ấp Bình An lưu trữ.

01/2018            

TS. Võ Vinh Quang
Các tin khác:
Trang chủLiên hệ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.